Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2009

Chúng ta đang bóp méo bánh trung thu


Ảnh: vfej.vn

Cứ mỗi lần đến rằm trung thu, dư luận lại quan tâm đến những chiếc bánh. Điều làm người ta quan tâm nhất vẫn là những vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm. Nhiều cơ sở sản xuất đã bị đình chỉ, và người ta công bố những hình ảnh bánh trung thu mốc thếch khiến chúng ta có cảm giác sợ hãi mỗi khi có ý định mua loại bánh này.

Nếu câu chuyện về bánh trung thu chỉ dừng ở đó, có lẽ mọi chuyện cũng không đến nỗi tồi tệ. Chỉ cần xiết chặt khâu an toàn vệ sinh thực phẩm, phạt nặng, hoặc bỏ tù những kẻ gian lận… sẽ hạn chế được cách làm ăn thiếu trách nhiệm này.

Nhưng sự thật về bánh trung thu bị làm “bẩn” lại là một câu chuyện khác. Ấy là những chiếc bánh trung thu “quý tộc” mà sự ra đời của nó đã làm mất hết ý nghĩa tươi đẹp về cái tết của trẻ em. Những chiếc bánh trung thu này có cái giá không thể đùa: 100USD, 500USD, 1000USD… Và nếu ai đó muốn mua nó phải đến tận cơ sở để đặt hàng. Nó được sản xuất ra để làm gì? Câu trả lời rất đơn giản: làm quà biếu! Và biếu ai thì chúng ta không cần trả lời nữa. Với một cái bánh trung thu giá như thế này, có thể mua cả một xe tải hạng nặng bánh trung thu bình dân cho bọn trẻ ở nông thôn.

Nhiều người bắt đầu tò mò rằng, mỗi cánh bánh trung thu mà giá cao đến thế? Nó có gì đặc biệt? Xin thưa nó chẳng có gì đặc biệt ngoài việc người ta “quái vật hoá” nó. Ấy là người ta thêm vào đó những “phụ kiện” chẳng liên quan gì đến tết trung thu. Ví dụ như: vây cá mập, sâm, nhung và nhiều loại dược phẩm quý hiếm khác. Nó đã biến thành dị dạng và chỉ có chức năng để người ta tẩm bổ.

Chưa hết, người ta còn kèm theo nó những thứ cũng chẳng liên quan gì đến trẻ con như rượu Tây chẳng hạn. Chỉ cần vào mạng các bạn sẽ tìm thấy vô số quảng cáo về bánh trung thu “quái vật”, họ kèm theo những thứ hết sức vớ vẩn chỉ để biến thành bánh trung thu mà dân tình gọi là bánh quý tộc. Đương nhiên những chiếc bánh trung thu thế này, được sản xuất để phục vụ cho lợi ích của người lớn. Họ sẽ dùng nó để biếu xén, nịnh bợ các sếp… Và thế là cái bánh trung thu giản dị trong sáng đã bị chính chúng ta bôi bẩn vì dục vọng đen tối.

Chưa hết, ngoài việc nhồi những thứ ngớ ngẩn ấy vào bánh trung thu, người ta bắt đầu làm những thứ bao bì hết sức tốn kém và thừa thãi. Một cái bánh kiểu quý tộc sẽ được đựng trong hộp gỗ quế, lót nỉ lót nhung… Về hình thức, trông nó như một cái va ly đựng ngọc bảo. Việc vẽ rắn thêm chân này cũng chỉ để nâng giá lên thật cao để chứng tỏ đẳng cấp mà thôi. Những tưởng với loại bánh đắt cắt cổ này sẽ không có người mua, nhưng sự thật là bán khá đắt hàng, thường phải đặt trước mới có.

Nếu chúng ta quay ngược lại thời gian chỉ khoảng chục năm trước, tôi tin rằng trung thu hồi ấy vui hơn nhiều. Tôi nói vui hơn, bởi thời đó cái tết trung thu được sống trong ý nghĩa đích thực của nó. Cứ mỗi dịp thu về là bọn trẻ nô nức chuẩn bị đồ chơi - những món đồ chơi giản dị do chúng tự làm: ông sao, đèn lồng, đèn kéo quân… Bọn trẻ tự tay vót nan, dán giấy hào hứng và vui biết nhường nào. Những thứ đồ chơi ấy nó làm bọn trẻ vui vì đó là sản phẩm của chính bọn trẻ. Và cái bánh trung thu thơm dẻo, trắng ngần trở nên ngọt lịm hơn bao giờ hết.

Tôi còn nhớ rất rõ cách làm bánh của mẹ tôi. Đó là những cái bánh trắng tinh, thơm lừng và giản dị vô cùng. Dẫu rằng thời đó thiếu thốn, chẳng nhiều bánh trái, đồ chơi như bây giờ nhưng cái gì do chính tay mình làm cũng vô cùng ý nghĩa. Bởi chỉ chính tay chúng ta tạo ra nó, sống cùng với nó mới thấm được hết cái hương vi sâu xa kia.

Còn bây giờ, tất cả đã có sẵn, chẳng phải làm gì cứ ra chợ mà mua. Người lớn chỉ cần mua về vài cái bánh, vài cái đèn thế là đón tết trung thu. Bọn trẻ thì hình như cũng chẳng mặn mà lắm với mấy thứ đồ chơi sáng lập loè bằng pin Trung Quốc ấy. Và bánh dẻo - những cái bánh kiểu công nghiệp loè loẹt màu sắc cũng không hấp dẫn chúng nữa. Ở thành phố tôi đố phụ huynh nào nhìn thấy con em mình tự ăn hết một cái bánh trung thu loại vừa đấy! Chất ngọt bây giờ với đám trẻ là một sự tra tấn, chúng sẽ giãy nảy nếu bắt chúng ăn. Chúng chán bởi quá nhiều và thừa thãi.

Trở lại câu chuyện của người lớn. Chính người lớn đã làm mọi việc tồi tệ thêm. Người lớn đã lợi dụng cái tết của trẻ con để biếu nhau những cái bánh “quái vật”, không biết chừng khi đem biếu những chiếc bánh kiểu ấy người ta còn kèm cả USD, nhét vàng ròng vào bên trong. Cái bánh mà ý nghĩa của nó là sự trong sáng đã bị những gã người lớn đang ngùn ngụt tham vọng nhồi vào các thứ hết sức ngớ ngẩn kia thật sự đã chết lâu rồi. Năm ngoái tôi đến chơi nhà ông chú họ, đây là ông chú cũng có chút vai vế thế nên hay được biếu quà cáp mỗi dịp tết lễ.

Chính mắt tôi đã nhìn thấy một cái bánh trung thu to gần bằng cái thớt nghiến. Trong đó là một mê hồn trận những thứ chẳng liên quan đến bánh dẻo trung thu: nào là sâm, nào là nhung hươu, nào là vây cá mập… chúng bị ép chặt cứ nhầy nhầy toả mùi tanh tanh. Ông chú tôi cười và bảo: “tao đố mày ăn được đấy!”. Đúng là khó ăn thật, chúng chỉ để nhìn, để cảm thấy sự thừa thãi… Cuối cùng bà cô tôi nhận xét: “Chỉ có cái hộp là dùng được. Cô đem về đựng đồ trang sức…”. Hay thật, hộp bánh lại dùng để đựng đồ trang sức! Người lớn chúng ta luôn làm chuyện ngược đời.

Bọn trẻ không còn hào hứng với tết trung thu phần lớn do người lớn. Đơn giản vì tết của bọn trẻ phải hồn nhiên và đơn giản như chính tâm hồn chúng. Đằng này chúng ta vắt óc để “bịa” ra những thứ hết sức lăng nhăng. Lại thêm những thứ đồ chơi lập dị nhập khẩu từ nước ngoài, mà những thứ đồ chơi ấy đâu phải trung thu kiểu người Việt. Cứ thế và cứ thế người lớn đã đẩy cái tết trung thu ra khỏi tư duy của bọn trẻ.

Và khi cái tết trung thu đi qua thì ôi thôi! Trên đường phố, người ta bắt đầu vứt bánh ăn thừa, bánh ế ẩm…Chúng nằm chỏng vọng bốc mùi hôi thối. Còn các loại vỏ bánh thì lập loè như ma chơi. Chỉ khổ những người làm công tác vệ sinh môi trường. Sẽ có người phản biện rằng, đó là lẽ tự nhiên, nhu cầu của xã hội, người ta có tiền thì người ta chơi để chứng tỏ đẳng cấp. Một cái bánh bằng cả gia tài của kẻ khác mới xứng danh “quý tộc”. Mà ngẫm cũng đúng, tiền bạc họ kiếm được, họ có nhu cầu nên người ta mới sản xuất chứ có ai bắt đâu.

Nhưng đó là một dấu hiệu của sự biến thái trong văn hoá của con người thời đại @. Kiếm được nhiều tiền đã khó, việc biết tiêu tiền như thế nào lại càng khó hơn. Đừng nghĩ rằng, vung tiền ra như lá cây là chứng tỏ được đẳng cấp “quý tộc” của mình.

Tôi có một ông bạn gặp rắc rối với chính chiếc bánh trung thu “quý tộc” nọ. Số là anh bạn có việc đang muốn nhờ cậy nên tìm bằng được chiếc bánh kiểu ấy để biếu lãnh đạo. Sau rất nhiều lần đặt mua cũng có được một chiếc như ý: hộp gỗ, lót nỉ lót nhung, có kèm rượu Tây… Chỉ tội giá quá mắc, nó quá sức với túi tiền vốn không nhiều của anh bạn tôi. Thế là bàn ra tính vào, hai vợ chồng thảo luận mãi. Chồng thì bảo với ngần ấy tiền thì quy ra phong bì cho xong, còn vợ lại cãi: phong bì thô lắm, tết nhất cần có bánh làm cái cớ để làm quà… còn phong bì phải đi kèm mới hợp thời.

Loanh quanh mãi hai vợ chồng đâm ra cãi nhau rồi giận dỗi. Cuối cùng hai người cũng quyết định mua cái bánh nặng ký ấy về để làm quà. Nhưng xui xẻo ở chỗ, đứa con trai bốn tuổi nghịch như quỷ sứ ở nhà, thấy món đồ lạ nên nhân lúc bố mẹ đi vắng đã bóc ra xem và nhón đi mấy miếng. Vợ chồng anh bạn tôi xót của, giận con nên lại càng cãi nhau to hơn…

Thấy vậy tôi góp ý rằng, bánh “quý tộc” đắt quá thì mua bánh bình thường vậy, như thế có phải tiết kiệm hơn không. Anh bạn tôi gắt: ông cứ đến thử nhà lãnh đạo mà xem, bọn nó toàn bánh đẳng cấp, mình đến với cái bánh bán đầy ở chợ quê mùa lắm! Cái câu: “quê mùa lắm”, anh bạn tôi kéo dài chua xót…

Thì ra là vậy, tôi cũng lờ mờ hiểu đôi chút về sự thật buồn bã này. Người ta đua nhau vì sợ người khác biết mình yếm thế! Sự thật là nhiều người khả năng tài chính không phải nhiều nhặn gì cũng cố gồng mình để đua với thiên hạ. Cái sự đua ấy nó không bắt nguồn từ chính động lực bên trong của họ mà từ bên ngoài. Từ cái sợ người ta bảo mình quê mùa… Một cái sợ hết sức vô lý!

Sẽ còn nhiều cái tội của người lớn nhưng chỉ xin một điều rằng, đừng vì những lý do ngớ ngẩn mà làm hỏng cái tết của trẻ con, cụ thể là cái bánh trung thu tinh khiết ngọt lịm ấy.

  • ASáng

Bốn thói xấu của người Việt đương đại


Thói gian lận

Nhiều thủ thuật gian lận cước taxi.
Ảnh thethao&vanhoa

Từ điển Tiếng Việt 1994 định nghĩa gian lận là “có hành vi dối trả, mánh khóe, lừa lọc”. Dẫn từ điển cho chắc ăn thôi chứ nhắm mắt vào cũng thấy rõ người ta gian lận, dối trá thế nào, có khi còn thấy rõ hơn.

Trong buôn bán, từ nửa lạng cà chua, dăm ba quả táo đến hàng tấn cá ba sa, hàng tấn xi măng sắt thép đều có thể bị cân điêu, chỉ cần gian lận lấy nửa lạng là người ta đem nhét thật nhiều bánh đúc vào cái diều con gà, nếu gian lận được nửa yến thì sẵn sàng bơm thuốc phọt cho gà lợn rau quả mau tăng trọng, bất chấp những tai hại khôn lường, đồ xấu đánh tráo vào với đồ tốt rồi tính thành tiền đồ tốt, hàng ôi thiu thối rữa kém chất lượng đem tẩy rửa mông má lại để bán ra thành hàng tươi ngon…

Trong sản xuất thì bớt xén nguyên vật liệu, rút ruột công trình, làm hàng giả hàng nhái, gian lận giấy tờ sổ sách kế toán để moi tiền dự án bất chấp là dự án ODA hay dự án quốc gia, rút được tiền chia chác thì làm, không thì bỏ, bất kể chất lượng tốt xấu…Lại còn cái kiểu hùa nhau bỏ thầu thật thấp, chộp giật, cứ thắng thầu cái đã, làm nửa chừng thì bỏ đấy, một bên hết vốn, bên kia muốn hoàn thành kế hoạch lấy thành tích thi đua thì xin mời bỏ tiền vào…

Trong giáo dục thì trường trường lớp lớp đua nhau cho điểm vống lên, học sinh lên lớp hết để lấy thành tích, cán bộ cỡ muốn có bằng thì có người đi học thay, dân tứ chiếng muốn có bằng thì mua, điểm thi thì tẩy xóa xin xỏ, giấy báo kết quả thì mạo điểm mạo danh, vào thi thì mang theo phao, cấm đoán thế nào cũng không xuể, cha mẹ thì chạy trường chạy lớp phờ cả người, nghĩ mà kinh…

Về mặt xã hội thì kể không biết bao nhiêu thí dụ cho xuể, này nhé: lên phường lên xã vào bệnh viện thì bị xoay đủ kiểu nhưng cứ có ít “ngan nằm” là được việc, ra đường gặp đủ cách gian lận giao thông, kể từ bằng lái rởm đến xe rởm, kể từ người đi bộ, đi xe máy đến công-tơ-nơ siêu trường siêu trọng, hễ gian lận được đường là gian lận, có mắc mớ thì kẹp “nó” vào giấy tờ rồi nhờ nộp hộ vào kho, em vội phải đi không cần lấy hóa đơn, thế là xong.

Tiền của chính phủ cho người nghèo ăn tết, tiền từ thiện cũng bị ăn chặn ăn bớt. Trộm đạo tứ tung, trộm to như tham nhũng, man trá thuế khóa, nhập lậu xuất lậu …đến nhỏ như trộm cái đinh bù loong, cái thanh tà vẹt, con gà con cá… (trộm cá bằng kích điện là phổ biến từ Nam chí Bắc !). Người dân xây nhà hễ gian lận được dù chỉ một vài mét đất công là lấn tới, người dân buôn bán hễ làm luật được là chiếm luôn vỉa hè…

Trong văn hóa tư tưởng thì đạo văn đạo nhạc, đạo thơ đạo họa đủ cả, cũng chạy giải thưởng cho có danh, đánh bóng mạ kền cho sáng tên tuổi…Một phần không ít thanh niên học hành làm việc thì lười mà chỉ muốn có tiền nhanh, chỉ muốn tiêu xài xì tin, váy cộc chân dài tóc bờm dựng ngược, nay vũ trường mai nhà nghỉ…

Có những cuộc vận động hoặc thi tìm hiểu mà ai cũng biết có phần không phải, ai cũng có phần không phải nhưng vẫn bất chấp, vẫn bỏ tiền bỏ của bỏ thời gian lao vào làm. Khủng khiếp nữa là gian lận giữa ý nghĩ với lời nói, người ta sẵn sàng nói cái điều mà người ta không nghĩ thế, từ đấy dẫn đến gian lận giữa lời nói và việc làm, tôi có thể rao giảng anh đừng vào nhà nghỉ khi tôi vừa từ nhà nghỉ bước ra…

Gian lận dối trá giằng chéo đan xen ngang dọc trên dưới lớn bé to nhỏ trong suốt một thời gian rõ dài đã vượt quá một cái nếp xấu, một thói quen xấu để trở thành một thói xấu của tôi của anh của chúng ta nếu bạn không muốn nói là của người Việt bây giờ.

Thói vô trách nhiệm

Ảnh minh hoạ vietnamnet

Lại dẫn từ điển tiếng việt 1994: Trách nhiệm: 1-phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả. 2- Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai thì phải gánh chịu phần hậu quả.

Cứ theo như định nghĩa trên, cho tới bây giờ, hầu hết những kết quả không tốt đều chưa có đâu phải gánh chịu. Như thế là thói vô trách nhiệm.

Nếu như trách nhiệm của mình chưa ba năm rõ mười thì ai ai cũng nghĩ rằng đó là trách nhiệm của người khác, của ngành khác, của cơ quan khác. Phủi tay.

Ngày trước, người ta bảo vệ cây ven đường bằng cách quét vôi quanh gốc. Lúc đầu người công nhân quét rất cẩn thận, nước vôi trắng vừa đủ, vôi không rớt xuống chung quanh. Càng về sau, nước vôi càng loãng, vôi tung tóe ra đường, cho tới một lúc thấy họ chỉ gạch chéo vào gốc cây mấy cái, coi thế là xong.

Quần áo loại dành cho người ít tiền mua về thì đường chỉ xiêu vẹo, chưa mặc đã tụt khuy, xe máy đem đi bảo dưỡng thì người ta mở ra lau qua rồi lại lắp vào như thế gọi là bảo dưỡng, nhiều công trình bị rút ruột dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, nhà bị đổ, cầu bị sập…

Người dân lên xã phường quận huyện hoặc những cơ quan công quyền khác thường bao giờ cũng phải dăm lần bảy lượt, nhẹ nhàng cũng là người có trách nhiệm đi tập huấn, cô chú cứ chờ. Đầy đủ cả rồi mà không thích thì hỏi tại sao cái đơn lại viết thế này, chữ như chữ bác sĩ ai mà đọc được, về viết lại rồi đem lên đây…

Cả con đường mới làm to đẹp như thế tự nhiên chình ình ra một phần cái nhà, rõ là phải giải phóng ngay từ đầu mà vẫn không đi không dỡ không phá. Lại còn cái việc đổ trộm vật liệu phế thải ra đường nữa chứ, cứ đêm đến đổ ra ngồn ngộn, nói xin lỗi chẳng khác gì cái việc ị ra đường hàng đống tướng. Những gì là của công, của cộng đồng thì việc giữ gìn bảo quản thật khó, chặt phá xâm lấn vẽ bậy bỏ bẩn một cách hết sức hồn nhiên. Ra đường thấy kẻ cắp móc túi mà không hô hoán, gặp người bị nạn thì rất đông người xúm lại để…xem nhưng vẫn dửng dưng.

Công chức ở cơ quan, xin nói thật nhé, chẳng lấy đâu ra chuyện tám giờ vàng ngọc, trừ một vài người làm cật lực còn đâu thì tranh thủ đi chợ, đưa đón con, giặt quần áo khi nhà mất nước, sắc thuốc cho đỡ tốn điện nhà, trà nước, đọc báo buôn chuyện chơi gêm…Đủ cả. Người dân ở đường phố thì vứt rác vứt chuột chết ra đường, thải rác xuống sông xuống cống thoải mái, có khi ngang nhiên đào ống nước ngang qua đường, rửa xe máy thì phun cả nước vào người qua lại, mở cửa hàng bún chả thì cả phố hít khói với mùi thịt nướng, mở cửa hàng sắt thì ngày đêm bốn chung quanh nghe uỳnh uỵch xuống hàng, mở cửa hàng bán vô tuyến thì loa eo éo suốt ngày, bước ra đường thì bụi cát mù trời…

Nhiều người có tiền, bỗng dưng có rất nhiều tiền thì phè phỡn và bất chấp.

Nhiều nhà báo nhúng bút vào sự thật thì bị đe dọa, có trường hợp bọn xấu bắn đạn chì nhà báo lại trượt vào đùi nhà thơ mới bi hài làm sao !

Rất đông thanh niên công khai nói rằng sống trung thực thì chỉ thiệt thòi. Cũng rất đông thanh niên chỉ ham chơi, đua đòi, sống ngày qua ngày không lý tưởng (lý tưởng hiểu theo nghĩa có mục đích tốt để phấn đấu), không có mẫu hình nào để noi theo (như một thời những Nguyễn Văn Trỗi, Lê Mã Lương…)…

Không kể hết được. Chỉ tóm lại một câu hỏi : đâu chịu trách nhiệm về những kết quả không tốt ấy ?

Đã nhiều năm rồi người ta quen vô trách nhiệm, vô trách nhiệm nghề nghiệp, vô trách nhiệm lương tâm, tới mức trở thành dửng dưng, vô cảm, trở thành tín đồ của chủ nghĩa ma-ke-no, một thói xấu của tôi, của anh, của chúng ta nếu như bạn không muốn nói đó là của người Việt bây giờ.

Thói cơ hội chủ nghĩa

Định nghĩa một cách đơn giản nhất theo Từ điển tiếng Việt 1994 là: 1- Quan điểm, chủ trương lợi dụng cơ hội, mưu cầu những lợi ích trước mắt và cục bộ, bất kể việc làm đúng hay sai. 2- Khuynh hướng tư tưởng-chính trị trong phong trào công nhân, chủ trương chính sách tùy thời, thỏa hiệp.

Chủ nghĩa cơ hội đã len lỏi, xâm nhập vào từng cá nhân, trở thành một thói xấu là thói cơ hội chủ nghĩa theo đó người ta bất chấp đúng sai, tùy thời thỏa hiệp, đón gió trở cờ để mưu cầu lợi ích cho riêng mình.

Xu thời nịnh bợ tràn lan, còn quyền thì còn đeo bám bợ đỡ, hết quyền thì lập tức quay lưng nói xấu, xoay ngay sang kẻ khác đang quyền. Những người được nịnh bợ thì đều biết chúng nó nịnh mình, nghe mãi thành quen, nghe điều trái tai thì chịu không được, lại cũng có yêu cầu phải dùng chúng nó, biến chúng nó thành lũ đệ tử em út để mà sai bảo mưu cầu lợi ích riêng, kể từ chuyện nhỏ như con thỏ là đi nhà nghỉ mát-xa đến chuyện lớn là xí phần đất cát, chung cư, dự án…Thế là kẻ xu nịnh và đứa được bợ đỡ hai bên đều cần nhau, xoắn vào nhau, đều tùy thời thỏa hiệp, tạo thành một thể thống nhất, có anh này thì có anh kia, cứ thế luân hồi tưởng như không bao giờ chấm dứt.

Đấy là chưa nói đến những mưu đồ phản trắc, lừa lọc cài bẫy, vu oan giá họa, bơm vá xì tút bóp méo sự thật, xúi bẩy khích bác, a dua….chỉ vì những lợi ích cá nhân. Suy cho cùng, đấy cũng chính là thói cơ hội chủ nghĩa

Lại còn hiện tượng này nữa : những kẻ xấu thì kéo bè kéo cánh, có nịnh bợ trên có đe nẹt dưới, có tham mưu có tư vấn, có liên kết móc nối, còn người tốt thì đơn độc, trơ trọi, không biết dựa vào đâu. Đành ngu ngơ ngậm miệng, nhắm mắt cho qua, bực dọc bức xúc thì về nhà chửi bâng quơ cho bõ tức thế thôi, suy cho cùng cũng là cơ hội chủ nghĩa.

Thói cơ hội chủ nghĩa đang làm biến dạng trái tim và tâm hồn tôi, anh, đang phá hoại niềm tin của chúng ta đối với những giá trị tinh thần cao đẹp.

Thói chí phèo

Đốt xe máy ăn vạ

Không cần phải dẫn định nghĩa, ai cũng hiểu thói chí phèo là gì. Chỉ nói thêm dân gian còn một từ khác để chỉ thói xấu này, đó là từ “bầy hầy”.

Nhìn chung quanh mình thấy không ít những kẻ “cào lưng ăn vạ”. Xin kể ra đây một thí dụ điển hình. Trong một cuộc họp, một cán bộ bị phê bình, tức quá không kìm được bèn rút điện thoại di động ra nói để tôi gọi cho Chủ tịch nước hỏi xem phê bình thế có đúng hay không ! Anh ta thường khoe là quen với Chủ tịch mà. Chí phèo đến thế thật đã hết chỗ bình luận.

Trong mỗi cơ quan thế nào cũng có một vài anh cứ xoay ngang ra, mọi người làm một đường anh ta phát biểu ý kiến một nẻo. Một số người sai toét mà cứ ôm đơn đi kiện, không ăn được thì đạp đổ, bầy hầy hết chỗ nói mà phải chịu đấy. Một số anh về hưu rồi nhưng hàng ngày cứ đến cơ quan, cứ giữ phòng làm việc, cứ góp ý tùm lum hết cả. Trong sinh hoạt dân phố, đốt bếp than tổ ong khói xộc vào nhà người ta hàng ngày, người ta có ý kiến thì quắc mắt thách đứa nào dám động vào bếp của ông. Vứt rác ra đường, có ý kiến thì la lối tao vứt ra đường chứ tao có vứt vào nhà vào mả chúng mày đâu, vác cưa máy mang ô tô đi cưa trộm cây gỗ quý giữa lòng Hà Nội…Khiếp quá !

Tham gia giao thông thì thấy ngay thế nào là chí phèo. Những chuyện bầy hầy như vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, phóng xe trên vỉa hè…chả là cái đinh gì so với chuyện khi phạm luật thì hất cảnh sát giao thông lên nắp ca-pô rồi bỏ chạy mấy chục cây số, bật diêm đốt xe máy giữa đường, ngồi lỳ trên xe máy để cảnh sát phải khiêng cả người cả xe về trạm, gây tai nạn rồi bỏ chạy, mặc xác người bị nạn…

Rủ nhau đi cướp gà toi, khi phóng viên chụp ảnh lại còn giơ mấy con gà dịch lên khoe, đi hội hoa thì chen chúc, dẫm đạp, bẻ cành ngắt hoa, hành khách đi xe thì bị nhốt vào tiệm cơm tù, xe buýt bị chặn lại để cướp khách, ra đường động va chạm một tí là đe chém đe giết, rải đinh ra đường cho xe xịt lốp rồi hành nghề vá xe…..Đúng là có đến một ngàn lẻ một kiểu chí phèo.

Thói chí phèo làm cho người ta nhờn với pháp luật và coi nhẹ một số những giá trị tinh thần, là thói xấu mà tôi, anh và chúng ta bây giờ có thể nhận rõ trong rất nhiều những hành xử hàng ngày. Dân gian gọi những người mắc thói chí phèo là những người bị đứt dây thần kinh xấu hổ, những dân ngụ cư ở phố hàng thớt !

*

Trên đây là một số thói xấu của nhiều người Việt chúng ta trong nhiều thập kỷ vừa qua. Những thói xấu này gắn bó với nhau, liên quan qua lại, có khi cái này là cái kia, trong cái này có cái kia, không khó để nhận biết bởi vì người ta cũng chẳng cần che dấu là mấy.

Chủ đề không mới nhưng vẫn đáng nhắc lại để một lần nữa chúng ta nhìn lại và nhận biết hơn chính chúng ta, với tư cách là một cá nhân, một tập thể, một tổ chức. Nhắc lại với nhau mà cùng biết xấu hổ, đó là điều may, còn nhắm mắt bịt tai, coi như mình đã tốt cả rồi thì đó là bất hạnh.

Thế nào cũng có bạn hỏi những thói xấu trên có là thuộc tính, là bản chất bản ngã gì gì đấy của người Việt hay không. Chắc chắn là không. Những nghĩa cử tốt đẹp, những trái tim trung hậu giàu lòng nhân ái, vị tha, đồng cảm còn nhiều lắm và đó mới là bản tính người Việt. Thế thì những thói xấu trên ở đâu quàng vào chúng ta? Nếu thực sự có một câu hỏi như thế thì nó đã vượt quá sức của người viết bài này, bởi vậy phải xin ý kiến của các nhà quản lý xã hội, các nhà nghiên cứu về xã hội, về văn hóa, lịch sử…Và để mọi người cũng có cơ hội bày tỏ ý kiến, nói cho rõ ra đâu là đen đâu là trắng thì phải chăng nên mở mục thăm dò ý kiến rộng rãi về mấy thói xấu trên và nguồn gốc của nó.

  • Thăng Sắc

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2009

"Trồng người" ở Úc: Trẻ em tự quyết


Ngày đó đi dạo ở Bờ Hồ (Hà Nội), tôi chứng kiến một cảnh tức cười: Một cô tây da trắng, chừng 35 tuổi, lững thững đi bộ đến gần Thủy Tạ; đằng sau cô là một bé con tây khóc tức tưởi đi theo. Một bà người Việt chứng kiến sự việc, bực tức kéo tay cô tây, chém gió, nhắc nhở: “Mẹ cái kiểu gì vậy, con khóc mà cứ lờ tịt!”. Sẵn biết tiếng Anh, tôi dịch đoạn đó cho cô.
Cô tây quay sang nhờ tôi giải thích cho bà người Việt: “Cháu 3 tuổi rồi, hôm nay trời nắng đẹp, không gắt, cháu ăn sáng no nê, tắm sạch, đại tiểu tiện xong rồi, không ốm đau gì, vậy không có lý gì phải khóc cả! Cháu nó hờn đòi bế vô cớ… không chiều được! Lúc nào cháu thực sự mệt thì mẹ con sẽ cùng nghỉ.”
Cô muốn con cô đi bằng chính đôi chân của cháu.
Khác biệt Đông - Tây

Tính tự lập của trẻ con trong các gia đình phương Tây được hun đúc từ rất sớmTrong khá nhiều trường hợp, các bậc cha mẹ phương tây khác hẳn các bậc cha mẹ Á đông, trong đó có người Việt, về cách dạy con.
Rời vú mẹ, trẻ con phương tây thường được/bị đặt ngồi trên ghế riêng để tự ăn. Sang nhà nhiều bạn gốc Anglo, tôi thường thấy cháu bé mới hai, ba tuổi, ngồi trên ghế cao, thắt dây bảo hiểm, ăn sáng. Nhiều khi các cậu bỏ thìa, bốc thẳng tay vào bát bột lúa mạch vốc đưa lên miệng, khi vội, các cậu bưng bát úp, “trát luôn” lên mặt, ăn cho nhanh.
Còn ở Việt Nam, ta thấy ông, bà, cha hoặc mẹ của trẻ, mấy năm nay thêm ô-sin, thường bưng bát chạy theo dùng thìa đút cho trẻ nhỏ. Ngay ở các nhà giữ trẻ, các cô nuôi dạy trẻ vẫn hàng ngày tập trung các cháu, xúc đứa này một miếng, đứa kia một miếng… Roi và đũa cả được dùng để thiết lập “đồng thuận.”
“Trong gia đình, thiết lập những nền nếp và thời gian biểu thường rất dễ, nhưng thực hiện phải kiên trì”. Rachel, người mẹ ở Sydney có cặp sinh đôi trai năm nay 6 tuổi kể:” Chúng tôi quy định đúng 8.30 tối là các cháu phải vào giường, mẹ hoặc bố sẽ đọc cho một hai trang truyện, rồi ngủ. Nếu không ngủ thì cứ nằm im cho anh/em ngủ.”
Ngược lại, anh chị tôi người Việt trước ở quận Hai Bà Trưng, hiện định cư ở vùng Cabramatta, thản nhiên: “Bố mẹ thức bao lâu thì trẻ con thức bấy nhiêu.” Nhiều khi mải xem phim Hàn Quốc, SEA Games thu từ VTV từ Việt Nam, anh chị bỏ bẵng cho hai con lăn lộn thức tận 11, 12 giờ đêm, lăn ra ngủ khi chúng quá mệt.
Tính tự lập của trẻ con trong các gia đình phương tây (Anglo) ở Sydney cũng được hun đúc bằng cách các cháu được tham gia vào các hoạt động trong nhà. Rửa bát, quét nhà, hút bụi, hoặc đổ rác thường là những phần trong thời gian biểu của trẻ con. Tôi đã đọc ở sách đâu đó rằng lứa tuổi từ 4 đến 6, trẻ con rất muốn bắt chước và hưng phấn làm việc giúp đỡ bố mẹ, cái nết bắt đầu từ đó. Nếu nuông các cháu qua giai đoạn này thì việc tạo nền nếp sẽ khó hơn nhiều.
Trừ những gia đình cực kỳ giàu có, rất hiếm gia đình Úc có người giúp việc. Thảng hoặc có cha mẹ nào quá bận bịu, thì trả tiền có người đến dọn nhà độ vài tiếng một tuần, trong lúc chủ nhà đi vắng. “Cậu cứ tưởng tượng cảnh nhà mình toàn người thân, tự nhiên có ai lạ lẫm đi ngễu nghện trong nhà? Chướng ghê lắm,” đồng nghiệp Diana của tôi nói.
Một ví dụ về việc ô-sin làm hỏng việc nhà là chuyện hai người bạn tôi: Chồng là kỹ sư xây dựng người Anh, vợ là trưởng phòng PR tài giỏi người Úc-Anglo, sống ở Singapore và sinh cháu Michael, nay 7 tuổi. Do anh lẫn chị đều đi làm cả ngày, nên Michael bị giao phó cho cô giúp việc người Philippines. Sau một thời gian ngắn cháu Michael bắt đầu nói thứ tiếng Anh "bồi" của cô giúp việc, đòi bế, đòi đút thức ăn, và ăn vạ nếu không có ai nựng.
Tập quán ở những vùng đông di dân Việt và Á Đông ở Úc, nói chung, vẫn có thói quen bố mẹ “bao cấp” con cái. Con làm gì bố mẹ cũng đắm đuối giúp, hy sinh tất cả cho học tập. Trong trường trung học của con tôi, ít khi thấy học sinh gốc Á châu tham gia vào các hoạt động ngoại khóa như thể thao, nhạc, họa hay công tác từ thiện do trường tổ chức. Chúng dành phần lớn thời gian vào học thêm, ngay từ lớp 7, để luyện thi đại học(!)
Lao động, giao tiếp và tự quyết
"Cần nuôi dạy trẻ thành người có bản lĩnh, suy nghĩ độc lập" Hai “thiếu gia” nhà tôi, hồi 9 và 13 tuổi, nghe trẻ con hàng xóm xui khiến, một hôm về xung phong rửa xe cho bố. Tôi kiếm cho mỗi cậu một đôi găng cao su và dạy cách trộn nước rửa, xoa xà phòng và xì nước. Hai cậu “phá phách” nửa buổi chiều, ướt sũng nước vì chúng vác vòi bơm tấn công nhau, nhưng cũng rửa xong chiếc xe. Rồi chúng khoe rằng có bác hàng xóm, sức yếu, thấy vậy đã sang nhờ lần sau rửa xe của bác, bác hứa trả mỗi cậu 10 đô. Hai cậu giờ rất khoái rửa xe vì vừa có tiền ăn kem, vừa được dịp xịt nước đánh trận.
Những công việc nhỏ quanh khu phố ở Sydney cho trẻ con gồm đi đưa quảng cáo, đẩy xe báo đi bán ngày thứ bảy hoặc chủ nhật, hoặc theo xe bán kem phụ giúp khi nghỉ học. Thi thoảng tôi thấy những toán thiếu niên, lớp 7 lớp 8 đi vào các khu phố quyên tiền giúp người nghèo, người tàn tật, hay tài trợ những chương trình cứu hộ biển ở Sydney. Dĩ nhiên đằng sau các toán thiếu niên đó là cha mẹ hoặc thầy giáo lái xe đưa chúng đi. Họ bao quát cảnh giác, sẵn sàng bảo vệ các cháu nếu có manh nha những nguy hiểm về ấu dâm hay bạo lực.
“Tính tự tin và khả năng suy nghĩ độc lập của trẻ con bắt nguồn từ khả năng giao tiếp. Ví dụ, nếu ai gọi điện đến nhà, cháu nghe điện thoại, nói chuyện đàng hoàng. Biết chào, và cám ơn người đã gọi đến,” cô giáo Jo ở tây Sydney giảng giải.
Lyn, bà mẹ 4 con ở vùng Ryde, tây bắc Sydney nhận xét: “Gặp ai cũng chào, biết cám ơn và giải thích cám ơn ‘vì việc gì?’ (thank you for….) chứ không cám ơn suông, và hiểu thế nào là ‘lời hứa.’ Đã hứa thì phải làm. Không làm thì giải thích vì sao không làm. Đó là những căn bản trong giao tiếp mà trẻ con tuổi nào học cũng không quá sớm.”
Kỹ năng ứng xử và giao tiếp (communication and interpersonal skills) là tiêu chuẩn tiên quyết trong tuyển dụng công việc ở khắp nơi trên thế giới. Giới trẻ phương Tây thường tự tin đi du lịch ba lô hay thoát ly công tác nước ngoài vài tháng đến vài năm nhưng phần nhiều không mắc vòng tội lỗi. Mà dẫu có mắc nạn, thì thường chúng biết tự đứng dậy.
Khi trò chuyện với con cái, tôi thường thấy cha mẹ ở Úc khơi gợi: Về việc này thì con quyết định ra sao? Và các cô cậu nhỏ rất khoái khi được tự quyết định, dẫu sự việc chỉ liên quan tới những điều nho nhỏ như mặc áo màu xanh hay màu đỏ. Cũng có lần tôi thực ấn tượng khi nghe một thiếu nữ 15 tuổi bàn về hoạt động của hội Chữ Thập Đỏ quốc tế ở Đông Timor. Cháu nói đã quyết định sẽ đóng chút ít tiền riêng của cháu vào quỹ giúp đỡ người mù chữ ở đất nước mới mẻ đó.
Tận cùng của giáo dục là gì?
Ước muốn của con người ta là đa dạng, mà hoài bão của tuổi trẻ thật vô bờ bến.
Kiếm vài bộ áo quần hàng hiệu xịn, xe thể thao bóng bẩy và xả láng ở khách sạn năm sao hay tập đi quyên tiền giúp đỡ người nghèo? Chăm lo doanh nghiệp để kiếm việc, dành mua nhà rồi mua thêm nhà cho thuê, hay chu du thế giới học khôn? Quyết chí làm quan hay đắm say vào con đường nghệ thuật thơ ca, văn sĩ hay thể thao? Quyết lấy cho được một tấm chồng giàu hay vợ triệu phú để hãnh tiến, hay vào đại học kiếm bằng PhD... Nhiều, nhiều nữa các lựa chọn.
Lựa chọn nào cũng có lý của nó, miễn trước hết trẻ em phải trở nên con người có giáo dục. “Con tôi lớn, phải thành người tự lập, có bản lĩnh, suy nghĩ độc lập và ứng xử cho ra hồn người,” bạn tôi nói. “Còn nó muốn làm gì, trở thành ai, thành cái gì? Đó phải là quyết định của chính nó.”


Lê Minh (Sydney. 9.2009)

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2009

Họp phụ huynh bên xứ…Mỹ

Trong đời bạn thích họp phụ huynh học sinh không? Chắc ít ai muốn, vì đến là phải đóng góp, xin xỏ, nói khó vì con mình hư. Nhà tôi có hai thằng cu đi học (lớp 3 và lớp 1), bố mẹ đùn đẩy, đành bốc thăm. Bố nó thua nên vác máy ảnh đi… tác nghiệp và xem dân Mỹ dạy dỗ con cái thế nào.

Mùa thu vàng của lớp 1

Các “ông” con đi học

Lũ con nhà tôi suốt mùa hè này không được đi đâu, vì bố đi công tác liên miên. Thằng lớn luôn hỏi, bao giờ con đi học. Với chúng, trường lớp là cái gì đó thân thương, xa mấy tháng hè như đã lâu lắm.

Cháu Hồng Hạnh, con gái anh Đặng Hoàng Duy, đồng nghiệp World Bank ở Washington DC, học xong lớp 5 ở Hà Nội, sang đây cháu vào lớp 6, trước đó cháu đã học mấy năm ở DC. Dự khai giảng về, cháu hỏi: “Bố có thấy ngày khai trường ở đây khác ta thế nào không?”.

Nghe cháu giải thích, anh không khỏi ngạc nhiên: “Ở Mỹ ngày khai trường là ngày hội, bố ạ. Sau một kỳ nghỉ hè dài, ai cũng mong được tới trường nên cười rạng rỡ. Cô trò gặp nhau như mẹ con. Ở VN ta thì…mùa hè vui vẻ đã qua, sắp tới phải đến trường”. Cháu nhấn mạnh hai chữ “phải” và “được” rất rõ.

Anh Duy giật mình vì so sánh của con gái mình- một học sinh lớp 6 về hai cách “trồng người”. Một nơi cho ra lò rất nhiều em văn hay, chữ đẹp, nhiều giải quốc tế. Một nơi học sinh rất kém tính nhẩm, chữ như gà bới, nhưng ra đời có nhiều giải Nobel.

Với bố mẹ, khai trường lại là ngày… hạnh phúc vì các con đến trường để cô giáo lo. Suốt mấy tháng hè, cả nhà tôi tranh cãi ai nghỉ phép để trông con. Riêng chuyện này, bố mẹ từ tây đến ta, ở đâu cũng giống nhau.

Hội Phụ huynh (PTA)...

The Parent Teacher Association (PTA) tạm dịch là Hiệp hội Phụ huynh và Giáo viên. PTA không thuộc tổ chức đảng phái, nhà nước hay tiểu bang, mà hoạt động hoàn toàn độc lập, có khả năng vận động hành lang vươn tới Quốc hội Mỹ nhằm tranh đấu quyền lợi cho học sinh và trường sở.

Một buổi họp phụ huynh

Thoạt nhìn, có thể nghĩ, PTA gồm toàn những bà nội trợ, ở nhà trông con để chồng đi làm, ngồi với nhau trao đổi cách thức làm bánh hay rỉ tai mua hàng hạ giá. Trong thực tế, PTA có nhiều việc quan trọng hơn bếp núc. Hoạt động của PTA hướng tới xây dựng quan hệ gắn bó giữa phụ huynh, giáo viên và nhà trường với mục tiêu cuối cùng “vì quyền lợi của học sinh”.

Đại loại như bên ta, công nhân có công đoàn, tuổi trẻ có Đoàn TN, trường học có...PTA. Người tham gia hoạt động cho PTA không ăn lương, mà theo kiểu “ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng”.

Hội Phụ huynh có đóng góp không? Đương nhiên, có thực mới vực được đạo. Chẳng nhà nước nào đủ “sữa” để chi cho các tổ chức xã hội. Phí thành viên 5$/ người/ năm (lương tháng khoảng 2000$ cho người lao công). Nhà tôi có hai ông con, đóng 5$ hay 10$ đều được, ai giàu đóng hàng trăm đô.

Phí đó dùng cho các hoạt động “chào mừng” như học sinh được giải cao, biết ơn giáo viên vào ngày lễ, hội thảo về cách dậy dỗ con cái trong nhà, các buổi nói chuyện mời chuyên gia cao cấp, xây dựng website, in ấn tài liệu. Cuối năm, PTA đưa ra thông báo chi tiêu công khai.

Nhiều PTA địa phương tranh thủ được sự đóng góp rất lớn của những phụ huynh giầu có. Có tiền, PTA có thể can thiệp với trường là nên dạy môn ngoại khóa nào thích hợp vì PTA có thể trang trải chi phí, hoặc thay đổi chương trình giảng dạy tốt nhất cho con em

...Và họp phụ huynh

Trường của hai đứa con tôi có 630 học sinh từ 43 nước và nói 27 thứ tiếng, gọi là trường quốc tế cũng không ngoa. Vào phòng họp, thấy một bác Việt kiều ngồi bàn phiên dịch cho những phụ huynh VN yếu ngoại ngữ. Tiền thuê phiên dịch do PTA trả.

Khi vị chủ tọa hỏi là ai là người mới “di cư” đến vùng này, hơn nửa phòng giơ tay. Thật lạ, dân Mỹ di chuyển nhà từ vùng này sang vùng khác như mình đi xe máy ra Bờ Hồ. Khó mà xin “học trái tuyến” vì con học ở đâu theo ZIP CODE (mã vùng của bưu điện) theo địa chỉ nhà ở.

Đoán xem tôi là ai?

Vào đầu năm học, thường có “đại hội” PTA. Bà hiệu trưởng phát biểu ngắn gọn và mời các thầy cô lên “sân khấu” cho phụ huynh biết mặt. Rất lạ, toàn cô giáo, có mấy cô xinh như hoa hậu. Hội trường chật ních các phụ huynh.

Từng cô đứng ra trước mic và tự nói về mình trong vòng 15 giây. Mấy chục cô tự “PR” trong 5 phút, xong màn chào hỏi. Trình độ nói trước công chúng (public speaking) của những giáo viên này thuộc đẳng cấp quốc tế, rất tự tin và hòa nhã.

Càng tự lập sớm càng tốt

Màn tiếp theo là mời bố mẹ về lớp cô chủ nhiệm họp. Bố mẹ được xếp vào chỗ của con mình hàng ngày vẫn ngồi. Trên đó có tên con, tập tài liệu về chương trình học, thời khóa biểu, vài tờ rơi và…bức thư của “ông con” gửi chính bố mẹ mình.

Trước cửa lớp 3 là danh sách lớp và tờ tự giới thiệu rất PR của lũ học trò. Thôi thì đủ kiểu. Ví dụ, “Tôi có em trai 6 tuổi, tôi năm nay 8 tuổi, tóc đen và ngắn. Tôi thích kẹo không ngọt vì sợ béo. Đố biết tôi là ai”. Mới đọc cứ tưởng con trai nhà mình, nhưng nét chữ lại là lạ. Tìm mỏi mắt mới ra nét chữ gà bới quen quen.

Cô giáo giới thiệu rất kỹ về chương trình học tập trong năm, mục tiêu cuối năm, cách trao đổi giữa bố mẹ và giáo viên. Cách chấm điểm O-Outstanding, G-Good, S-Satisfied, N-Need Improvement (xuất sắc, khá, đạt và cần cố gắng) cũng được giải thích rất kỹ. Cô nhấn mạnh, S là hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu của lớp. Từ lớp 3 trở đi, O và G sẽ rất hạn chế vì sợ các trò, bố mẹ đua nhau “học vì điểm”.

Giáo viên hướng dẫn nguyên tắc làm bài tập ở nhà của trẻ cho
các phụ huynh

Ở nhà cần 30 phút đọc sách buổi tối và có ghi chép lại đầy đủ những sách đã đọc. Đó là một thói quen quan trọng của đứa bé. Bài tập về nhà không quá 30 phút với lớp 3, lớp 1 chỉ cần 20 phút. Còn lại các cháu nên được đi ra ngoài, đi công viên, đi xe đạp. Học nhiều quá sẽ mụ đầu.

Cô khuyên, bố mẹ cần nói chuyện với con càng nhiều càng tốt. Có đứa trẻ đến lớp được hỏi, cuối tuần em làm gì. Cu cậu ngắc ngứ không trả lời được, vì chỉ nói: “Em đến shopping mall rồi về”. Shopping chỗ nào cũng không biết, chỉ nhớ chỗ đó nhiều quần áo, hình nộm, rộng mông mênh. Lời khuyên của cô, đưa con đi mua sắm thì cũng nên nói là ở đâu, mua cái gì và tại sao. Đó là tập cho con kỹ năng nhớ, kể hay viết lại.

Trên tường là nội qui của lớp do chính tập thể học sinh trong lớp viết ra. Chúng tự nghĩ ra luật lệ, cách phạt và ký tên ở dưới. Lời thề danh dự này được treo cho đến cuối năm học. Mỗi lớp có lời thề "chui ống" khác nhau. Không lớp nào giống lớp nào. Tự ra luật và tự chịu trách nhiệm.

Điều cuối cùng là cô mong, bố mẹ nên dạy con tự làm lấy mọi việc. Nhà trường sẽ rất vui khi thấy các em tự buộc dây giầy, mặc quần áo, gấp jacket, đề tên vào balo hay biết đánh răng. Càng tự lập sớm càng tốt, đó là cách dạy các em nên người ngay từ bé.

Gia đình tôi cũng như hề, lũ trẻ khi cười nắc nẻ, lúc khóc tấm tức. “Nổi điên” lên có lúc cũng muốn bay về HN học cho sướng. Kém, đưa cái phong bì ra là được Oustanding ngay. Nhưng nghĩ đến cái nóng hầm hập, không điều hòa, ngày khai trường ít nụ cười, đưa con đến lớp như đánh vật vì chúng đâu có thích học, lại nhắm mắt... đưa chân.

Lời kết

Quả thật, lúc đầu tôi nghĩ đi họp phụ huynh thì chán lắm, lại chuyện thu tiền nong, đóng góp. Nhưng suốt cả buổi, nhà trường chỉ tập trung vào nội dung làm thế nào để cùng gia đình đưa đứa con đến đích vào năm học tới. Tôi đã bỏ hẳn 2 giờ để dự cả hai lớp (1 và 3) cho hai ông con vì thấy “đại hội” PTA này thú vị.

Cả hai lớp, tôi cũng viết trên tờ giấy nhỏ rằng, bố đã đến lớp con, ngồi vào ghế của con, gặp cô giáo tuyệt vời và mong con học giỏi. Bức “tâm thư” ấy sẽ được hai đứa đọc vào sáng hôm sau trên lớp.

Viết đến đây, tôi bỗng nhớ tới bài “Lạm thu tiền trường hay quản lý giáo dục “lờ” luật” được đọc mới đây mà thấy bùi ngùi…


báo : TuanVietNam.Net

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009

Bánh trung thu không phải để… ăn!

Ảnh: shutterstock
Tết Trung thu bây giờ không còn dành riêng cho trẻ con nữa, và sự biến tướng của nó đã làm cho bánh trung thu được làm ra hình như không phải để ăn…

Hẳn nhiều người trong chúng ta, nhất là những người ở lứa tuổi trung niên 40-50, có một thời sống ở quê. Trung thu ngày ấy rất ít đầu lân, ông địa, nếu không nói là không có. Chỉ một cái lồng đèn ông sao, bên trong thắp một ngọn nến hồng, bấy nhiêu đó đủ để những chủ nhân của nó vui suốt đêm thâu. Món ăn tinh thần chỉ có vậy, còn vật chất thì không gì ngoài mấy cái kẹo thèo lèo, sang lắm chỉ được túi bánh quy đen thui đen thủi. Có nơi, ông xóm trưởng đến từng nhà để quyên góp tiền rồi mua heo, bò về thịt. Trẻ con ở quê thời ấy, quanh năm bị củ lang củ mì nó vùi dập, có ngày Tết Trung thu, ăn được bữa thịt heo, thịt bò, 30-40 năm sau vẫn còn nghe sướng! Ngày vui Trung thu dành cho con trẻ thời ấy luôn vô tư và trong vắt như vầng trăng rằm giữa mùa thu vậy. Thế nhưng, kể từ khi cuộc sống vật chất đã bắt đầu khá lên, niềm vui dành cho con trẻ cũng không còn vô tư nữa.

Ở vùng Thu Xà, phía đông huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, có cụ ông tên là Nguyễn Tô, khi đã vào tuổi thất thập mà vẫn còn mê làm đầu lân “biếu” cho trẻ con vào mỗi dịp Trung thu. Trẻ con trong làng gọi ông Tô là “ông cắc cùm cùm”, do chúng dựa vào âm thanh phát ra từ chiếc trống lân mà thành. Thế nhưng độ 5 năm trở lại đây, ông bỏ hẳn nghề này. Hỏi vì sao? Ông nói: “Chúng nó giờ lợi dụng múa lân để làm nhiều việc không trong sáng như cái thời xa xưa nữa nên tui thấy bị tổn thương và nghỉ”.

Trung thu là dịp để tặng quà và nhận quà. Tặng quà cho trẻ và trẻ được nhận quà Trung thu là chuyện không có gì phải bàn cả. Có điều, người lớn đã “nhân cơ hội” của ngày Tết Trung thu dành cho các em mà “thể hiện tấm lòng” của nhân viên đối với thủ trưởng hoặc của “bên B” đối với “bên A” trong một công trình cụ thể nào đó. Trong trường hợp này, túi bánh trung thu “tặng cháu” chỉ là cái cớ, chỉ là “miếng trầu” để cấp dưới hay đối tác biếu một thứ khác mà không có một loại bánh trung thu nào có thể “địch” nổi! Bánh trung thu đang được làm ra hàng loạt với công nghệ cao, kể cả nhập khẩu với giá cao ngất trời, rồi A mua nó biếu B, B đem hộp bánh đó biếu lại cho C, C tiếp tục đem nó biếu D... Bánh trung thu bày ra sa-lon trong phòng lạnh, ăn một miếng đã ớn. Bánh trung thu bây giờ được làm ra hình như không phải để ăn!...

Dẫu có bị biến tướng, bị lợi dụng, song từ ngàn đời nay, trăng Trung thu vẫn luôn tròn vành vạnh, chú Cuội vẫn mỉm cười với tất cả trẻ em, bất luận giàu nghèo. Chúng ta tin, đến một lúc nào đó, những gì tốt đẹp nhất của ngày vui này sẽ được trả về đúng vị trí của nó.

Nguyên nhân khủng hoảng giáo dục bậc đại học ở Việt Nam

Đây là bản báo cáo / nhận xét của một giáo sư ĐH Harvard về tình hình giáo dục đại học ở Việt Nam. Những ai theo dõi tình hình đều không ngạc nhiên với những nhận xét chính xác này. Xin trích một số đoạn mà tôi nghĩ là nghe như là một ca khúc:

Tình hình hiện tại:

“Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình”

“Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận.”

"Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam."

"Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu."


Đâu là nguyên nhân?

Di sản của lịch sử: "
Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này."

Chính sách quản lí: "
Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước."

Bị kiềm chế: "
Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ."

Tham nhũng: "
Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn lan. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân."

Khác biệt thế hệ, đố kị: "
Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương."

Vô trách nhiệm: "
Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong."

Chính trị hóa: "
Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn."
http://tuanvannguyen.blogspot.com

Giáo dục bậc đại học ở Việt Nam: Khủng Hoảng và Phản Ứng

Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson (tháng 11/2008)
Bản dịch của Hồng Lĩnh
Bản gốc:
http://www.hks.harvard.edu/innovations/asia/Documents/HigherEducationOverview112008.pdf

I. Dẫn nhập:

Bài tiểu luận này nhằm cung cấp cho các ủy viên phía Hoa Kỳ thuộc Ủy Ban Đặc Nhiệm Song Phương về Giáo Dục Đại Học (Higher Education Task Force) những phân tích về sự khủng hoảng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Chúng tôi bắt đầu bằng cách phân tích mức độ khủng hoảng và nguồn gốc của khủng hoảng. Kế đến, chúng tôi cân nhắc những nhân vật chính liên quan – chính phủ Việt Nam, người Việt Nam, và cộng đồng quốc tế - đã phản ứng ra sao trước tình trạng đó. Chúng tôi kết luận bằng cách nhấn mạnh rằng: việc đổi mới thể chế là một thành phần quan trọng để tạo ra nền móng cải cách giáo dục hiệu quả. Một bài luận ngắn về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt nam, do một nhà khoa học có tiếng người Việt, được gửi kèm theo đây trong phần phụ lục để tham khảo.

II. Mức độ khủng hoảng:

Quả thật là khó phóng đại hơn nữa sự nghiêm trọng của những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong giáo dục đại học. Chúng tôi tin rằng, nếu không có những cải cách nhanh chóng và tận gốc dành cho giáo dục đại học, Việt Nam sẽ thất bại trong mục tiêu đạt tới các tiềm năng to lớn của mình [2]. Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình.





Bảng 1: Số bài báo đăng trên các tạp chí có cơ chế thẩm định chéo (peer-review) năm 2007


Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận. Không có một trường nào của Việt Nam xuất hiện trên bất kỳ bảng xếp hạng các đại học có chất lượng cao tại Châu Á được nhiều người biết đến nào. Về phương diện này, Việt Nam thua kém ngay cả so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Phần lớn các quốc gia này đều khoe khoang rằng ít nhất một vài học viện đứng đầu của họ có mặt trong các bảng xếp hạng. Trường đại học Việt nam đa phần cách biệt với dòng kiến thức quốc tế, như những con số nghèo nàn trong bảng 1 đã chỉ ra, và giáo sư Hoàng Tụy đã khái quát rất rõ trong bài luận của mình [3].

Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam. Các cuộc khảo sát do các cơ quan có liên hệ với Nhà Nước cho thấy có tới 50 phần trăm các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học xong đã không thể tìm được việc làm trong ngành nghề chuyên môn của họ, chứng tỏ có một khoảng cách to lớn giữa lớp học và thị trường công việc. Với mức độ 25 phần trăm giáo trình đại học bị bắt buộc tập trung vào các môn học chính trị giáo điều (political indoctrination) thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi sinh viên Việt Nam chỉ được chuẩn bị một cách tồi tệ cho công việc tương lại hoặc cho các học trình cao đẳng ở nước ngoài.

Sự kiện công ty Intel đã phải lăn lộn vất vả để mướn các kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở TP HCM là một ví dụ điển hình. Khi Công ty này tiến hành một cuộc thi tuyển cho 2000 sinh viên IT Việt Nam thì chỉ có 90 ứng viên, tức 5%, đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này, chỉ có 40 ứng viên vừa hội đủ trình độ Anh ngữ để có thể mướn được. Công ty Intel “khẳng định” rằng đây là kết qủa tồi tệ nhất mà họ gặp phải trong bất kỳ quốc gia nào mà họ đầu tư vào. Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế nói rằng việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ. Chất lượng giáo dục đại học nghèo nàn đã có một ảnh hưởng tiêu cực khác: Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu.



Bảng 2: Chỉ số Phát Minh Sáng Chế (Thống kê số lượng Bằng Phát Minh của các quốc gia trong vùng Đông Á - với Việt Nam nằm ở hàng cuối cùng với con số zero)

III. Nguyên nhân của khủng hoảng:

A. Di sản lịch sử:


Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này.

Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít vào hệ thống giáo dục đại học, ngay cả khi đem so sánh với các thế lực thực dân khác như Anh và Tây Ban Nha. Hậu quả là Việt Nam đã vuột mất cơ hội khi làn sóng cách tân thể chế giáo dục đại học quét qua phần lớn lục địa Châu Á trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.

Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, VN chỉ có một thể chế giáo dục đại học rất yếu kém để làm nền móng xây dựng (Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường Đại Học hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cuộc cách mạng Cộng Sản). Giai đoạn Pháp thuộc, cộng với tổn hại từ chiến tranh, rồi đến giai đoạn cai trị độc tài nặng nề của chế độc xã hội chủ nghĩa, đã không phải điều kiện thuận lợi để tạo ra những học viện chất lượng cao cho nền giáo dục đại học.

B. Chính sách quản lý của Nhà Nước:

Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước. Các đại học có phẩm chất cao từ Boston cho đến Bắc Kinh đều được hưởng những chính sách quan trọng mà không tồn tại ở Việt Nam [4]:

Vấn đề tự trị và tự quản tại đại học (Autonomy):

Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ. Chính Nhà Nước quyết định con số sinh viên được tuyển nhận, và (trong trường hợp các trường công lập) mức lương của các giảng viên. Ngay cả những quyết định về điều hành cũng như việc thăng thưởng của các Khoa Ban đều lệ thuộc vào sự kiểm soát trung ương. Hệ thống kiểm soát này gạt bỏ ra ngoài những khuyến khích cần thiết cho việc cải tổ và tiến thủ của các đại học.

Lương thưởng được dựa trên thâm niên và lương chính thức thấp kém đến nỗi các giảng viên phải làm việc phụ trội vượt mức mới đủ sống. Ngược lại với Trung Quốc, Việt Nam chưa có chế độ hậu đãi những chuyên viên tốt nghiệp từ nước ngoài.

Cơ cấu tuyển chọn dựa vào thành quả:

Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn làn [5]. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.

Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.

Tiêu chuẩn và mối liên kết quốc tế:

Học tập nâng cao kiến thức là một hệ thống không có biên giới, nhưng các học viện tại VN thiếu hẳn những mối liên hệ quốc tế có ý nghĩa. Thực tế là các học giả trẻ, được đào tạo từ nước ngoài, thường dùng mối lo ngại rằng họ không thể cập nhật những nguồn kiến thức đương thời như một lý do khiến họ tránh né trở thành giảng viên tại ĐH Việt Nam. Như GS Hoàng Tụy mô tả, các học viện tại VN rất hướng nội và không lượng giá chính mình dựa trên tiêu chuẩn quốc tế.

Trách nhiệm (Accountability):

Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong. Trong hệ thống ĐH công cộng, các nguồn tài trợ không dựa vào phẩm chất hoặc thành quả của trường. Tương tự như thế, tài trợ của Nhà Nước cho các công trình nghiên cứu được phân phát không dựa trên khả năng cạnh tranh, mà như là một hình thức lương bổng phụ trội.

Bởi vì số chỗ dành cho tuyển sinh trong các ĐH rất thấp – chỉ có 1 trong 10 học sinh thuộc lứa tuổi ĐH được nhận vào ĐH - do đó, ĐH Việt Nam không bị ép buộc phải cải tổ. Họ nắm một thị trường độc quyền, bởi chỉ có một số rất nhỏ mới đủ năng lực để ra nước ngoài học.

Tự do trong giáo trình:

Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn.

* * *

Có rất nhiều hàm ý xuất phát từ những phân tích trên đây:

Thứ nhất, chướng ngại chủ yếu cho sự cải tiến trong nền giáo dục cao đẳng không nhất thiết là vấn đề tài chánh. Thực ra, tính theo phần trăm của GDP, Việt Nam tiêu nhiều hơn các quốc gia khác trong khu vực cho giáo dục. Và con số này chưa tính tới khoản tiền rất lớn mà các gia đình Việt Nam chi vào giáo dục cho con cái, tại nhà và ở nước ngoài. Cách sử dụng các nguồn tài chánh đó như thế nào là một vấn đề khác.

Thứ hai, đầu tư vào du học nước ngoài không đủ để cải tiến hệ thống. Trừ khi môi trường sinh sống và làm việc cho sinh viên du học được cải tổ, sẽ khó có thể lôi kéo được các sinh viên du học về công tác tại các trường đại học.

IV. Phản Ứng


A. Các chính sách của Nhà Nước:


Phần lớn thời gian trong kể từ năm 1986 khi Việt Nam bước vào giai đoạn Đổi Mới, tức là tiến trình cải cách kinh tế và tự do hóa, tốc độ của việc cải tổ nền giáo dục đại học vẫn ở trong tình trạng lãnh đạm. Trong giai đoạn này, chất lượng giáo dục trì trệ tới mức một số nhà khoa học Việt Nam đã tin rằng chất lượng giảng dạy ở những môn khoa học căn bản đã bị tụt hậu [6].

Trong ba năm vừa qua, Nhà Nước đã đặt ra ưu tiên cao hơn cho cải cách giáo dục đại học. Năm 2005 Nhà Nước áp dụng chính sách được nêu ra trong Nghị Quyết 14 về việc ”cải tổ toàn diện nền giáo dục đại học” tới năm 2020. Đây là một bước ngoặt kêu gọi cải cách trong việc điều hành, bao gồm trao quyền tự trị lớn hơn cho các trường, và sử dụng các cơ chế tuyển chọn dựa vào thành quả. Mặc dầu rất khó để đánh giá ảnh hưởng của Nghị Quyết 14 vào tiến trình đề ra chính sách, nhưng tốc độ thay đổi vẫn rất chậm.

Gần đây hơn, chính quyền đã loan báo những sáng kiến thiết lập những học viện với các đối tác quốc tế, và bày tỏ sự sẵn sàng sử dụng nguồn vốn vay từ các tổ chức cho vay đa phương như World Bank. Trong khi những kế hoạch này là dấu hiệu tốt, chứng tỏ người ta đã nhận ra nhu cầu thiết yếu của các trường đại học mới, nhiều câu hỏi vẫn tồn tại. Các quan chức ngành giáo dục Việt Nam vẫn có cách nhìn ”Nhà nước là Trọng Tâm” rất mạnh mẽ khi nói về sự hợp tác đào tạo đại học, trong đó ”chính quyền”, chứ không phải ”trường” là đối tác chính với nước ngoài. Cách tiếp cận này hoàn toàn không phù hợp khi làm việc với hệ thống giáo dục phân quyền ở mức độ cao (highly-decentralized) như ở Hoa Kỳ, trong đó mỗi trường đại học là một nhân vật quyết định chính và vai trò của chính quyền rất hạn chế.

Thứ hai, chính quyền vẫn phô bày não trạng ”kế hoạch hóa tập trung” khi thiết kế các sáng kiến phát triển các trường đại học, bào gồm cả việc quyết định trước những môn học mà trường đại học mới mở sẽ tập trung vào dạy (Dự án ban đầu gợi ý tập trung chủ yếu vào các ngành khoa học và kỹ thuật, có lẽ để tránh các môn nhân văn và xã hội).

Thứ ba, mặc dầu các dự án được hoạch định trên căn bản là các đối tác quốc tế sẽ cung cấp các quản trị viên và nhân viên giảng dạy, nhưng cách thức phân phối các nguồn tài chính như thế nào thì không được xác định, không ai biết các khoản tiền vay từ các nhà tài trợ đa phương có được dành cho các đối tác quốc tế hay không.

Cuối cùng, người ta phải chờ xem mức độ tự trị và tự quản mà các học viện này được phép như thế nào [7].

B. Chương trình trao đổi sinh viên:


Sinh viên Việt Nam ra du học nước ngoài ngày càng nhiều kể từ năm 1986. Trong những năm đầu của Đổi Mới, phần lớn các sinh viên du học qua các chương trình học bổng song hoặc đa phương như các chương trình Fullbright hoặc chương trình World Bank… Khi xã hội VN trở nên khá giả hơn, các gia đình Việt Nam đã bắt đầu cho con cái đi du học tự túc. Những năm gần đây, con số sinh viên VN đi du học tại Mỹ gia tăng nhanh chóng một cách đặc biệt. VN nằm trong số 20 quốc gia hàng đầu gửi sinh viên đến Hoa Kỳ du học. Các kinh tế gia VN ước lượng các gia đình VN đang tiêu dùng ít nhất 1 tỷ đô-la mỗi năm cho việc du học.

Du học nước ngoài là một phản ứng quan trọng trước sự khủng hoảng giáo dục đại học tại VN, nhưng nó không thể nào là một giải pháp được. Đầu tiên và quan trọng nhất, du học chỉ là một lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ, những người có tiền hoặc may mắn có được học bổng. Đang có một sự chênh lệch rộng và ngày càng gia tăng giữa thành thị và nông thôn, giữa tầng lớp thượng lưu giàu có và đại đa số dân chúng còn nghèo. Việt Nam là một quốc gia rộng lớn, và không thể “khoán trắng” nền giáo dục đại học cho các trường đại học nước ngoài.

Thứ hai, ngày nào mà các trường đại học tại Việt Nam vẫn chỉ cung cấp được môi trường làm việc thảm hại và những gói khuyến khích không hấp dẫn, thì các chuyên viên được đào tạo từ nước ngoài vẫn tránh né các ngành nghề giảng dạy tại ĐH. Một thăm dò không chính thức dành cho sinh viên trên đại học Việt Nam ở Mỹ cho thấy đa số không muốn quay trở lại trường đại học Việt Nam, nhưng sẽ cân nhắc quay trở lại nếu môi trường làm việc hấp dẫn hơn.

C. Nhân Tố Quốc Tế:


Các cơ quan tài trợ quốc tế đã hỗ trợ các chương trình trao đổi sinh viên trong nhiều năm qua. Do yêu cầu của chính phủ Việt Nam, các cơ quan này đã đầu tư rất nhiều vào hệ thống giáo dục đại học. Theo quan điểm của chúng tôi, nỗ lực của các nhà tài trợ trong lĩnh vực này không hiệu quả, bởi vì họ làm rất ít, nếu không nói là không có gì, để giải quyết các vấn đề liên quan đến điều hành của chính phủ. Các khoản tài trợ đã không được phân phối trên cơ sở cạnh tranh, và những viện / trường được nhận tiền báo cáo rằng họ có ít quyền trong việc quyết định các khoản tiền được sử dụng như thế nào.

Các trường đại học quốc tế đã được khuyến khích để thiết lập các chương trình đào tạo tại Việt Nam, một cách độc lập hoặc (thường xảy ra hơn) thông qua hợp tác với các học viện trong nước. Với một vài ngoại lệ, các dự án này chỉ nhằm mục tiêu trục lợi và do đó chỉ nhắm vào những ngành thực dụng đã sẵn có nhu cầu (như marketing, quản trị, lập trình v.v…). Việc tuyển lựa SV phần lớn dựa vào khả năng trả học phí và phần lớn vượt quá tầm tay của đại chúng. Điều duy nhất có thể kết luận là những chương trình như thế chiếm một phần nhỏ trong hệ thống giáo dục đại học.

Những học viện này không đáp ứng được nhu cầu giáo dục cao đẳng có chất lượng cao. Chính quyền VN rất hứng thú với việc thu hút sự tham gia hợp tác của những đại học hàng đầu trên thế giới, đặc biệt là các ĐH tại Hoa Kỳ. Chúng tôi cho rằng cần 3 yếu tố chính để đạt được mục tiêu này:

Thứ nhất, chính quyền phải nhận ra rằng, các đại học có chất lượng cao sẽ không vào VN dưới vai trò những công ty đầu tư. Hơn nữa, trong cuộc chaỵ đua toàn cầu để tìm tài năng xuất sắc, các ĐH Hoa Kỳ luôn luôn là những đối tác được nhiều người đeo đuổi. Nói thẳng ra là, Việt Nam phải chấp nhận trả giá cao.

Thứ hai, cũng quan trọng không kém, chúng tôi phải nhấn mạnh rằng, các trường đại học danh tiếng sẽ không chấp nhận hạ thấp tiêu chuẩn của họ, và như thế chính quyền Việt Nam chỉ có cách cam kết theo đuổi một quy cách điều hành tốt hơn cho hệ thống giáo dục đại học, bao gồm chấp nhận chương trình giảng dạy và chế độ tự quản lớn hơn cho các trường đại học.

Thứ ba, bởi vì hệ thống giáo dục đại học cao đẳng tại Hoa Kỳ mang bản chất phân quyền cao độ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ chỉ đóng một vai trò hạn chế, mang tính cổ vũ, trong việc thúc đẩy hợp tác của các viện đại học Hoa Kỳ.

IV. Kết Luận: Nhu Cầu cho Cải cách Thể Chế

Cải tổ toàn bộ cung cách điều hành của chính quyền là chìa khóa để cải tiến nền giáo dục đại học tại Việt Nam. Tuy nhiên, cải tổ các học viện giáo dục đào tạo ở bất cứ nơi đâu cũng là một tiến trình lâu dài. Đây là lý do tại sao chúng tôi tin rằng Việt Nam phải xây dựng một học viện đào tạo đại học mới, mà ngay từ đầu đã có cơ chế điều hành tốt nằm trong DNA của nó [8]. Nỗ lực như thế sẽ tạo ra tác động mang tính chuyển biến tới hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam. Một học viện mới sẽ cung cấp một mái nhà hấp dẫn cho các nhà khoa học trẻ Việt Nam, những người mà hiện nay không tha thiết theo đuổi nghề giảng dạy đại học tại Việt Nam [vì thiếu môi trường hấp dẫn]. Thứ nhì, một học viện mới như thế sẽ là kiểu mẫu cho các học viện khác học hỏi và bắt chước, cũng như là một động lực cạnh tranh lành mạnh và rất mực cần thiết. Chúng tôi tin rằng Ủy ban Đặc Nhiệm về Giáo Dục Đại Học có vai trò độc nhất vô nhị trong việc thúc đẩy tiến trình cải cách ở Việt Nam bằng cách xây dựng một lược đồ toàn diện và khả thi cho cải cách thể chế ở Việt Nam.


Chú thích


[2] Để có đánh giá một cách hệ thống và tương đối về các thách thức chính sách mà Việt Nam phải đối mặt, xem thêm "Lựa chọn Thành Công: Quá trình phát triển Đông và Đông Nam Á và những bài học cho Việt Nam". Có sẵn ở địa chỉ:
http://www.innovations.harvard.edu/showdoc.html?id=98251.

Bản tiếng Việt:
http://www.diendan.org/viet-nam/lua-chon-thanh-cong/

[3] Hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ thống học viện Liên Xô, trong đó trường đại học chủ yếu là để giảng dạy, còn các nghiên cứu được thực hiện tại các viện nghiên cứu. Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu tại trường đại học, nhưng chỉ thành công rất nhỏ, vì lý do giải thích ở bên dưới đây. Như Bảng 1 chỉ ra, các viện nghiên cứu ở Việt Nam cũng không làm tốt việc nghiên cứu cho lắm.

[4] Phân tích của chúng tôi về thất bại của việc quản lý ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi những phát hiện của Ủy ban Đặc biệt về Giáo dục Đại học, được triệu tập bởi Ngân hàng Thế Giới và UNESCO, dưới sự chủ tọa của Giáo sư Henry Rosovsky (trường Harvard) và Giáo sư Mamphela Ramphele (trường University of Cape Town). Trong báo cáo kết quả của mình, "Peril and Promise: The Challenges of Higher Education in Developing Countries", Ủy ban này đã kết luận rằng quản lý của chính quyền chính là rào cản lớn nhất khiến giáo dục không đạt kết quả tốt hơn. (Có sẵn tại
http://www.tfhe.net/.) Giáo sư Rosovsky hiện là cố vấn cho công trình nghiên cứu đang được tiến hành tại Ash Institute về cải cách thể chế ở Việt Nam.

[5] Cũng cần phải nhấn mạnh rằng còn một thứ trong hệ thống giáo dục chưa bị làm què quặt bởi tham nhũng và gia đình trị là các cuộc thi đầu vào đại học. Chính phủ đã bỏ khá nhiều công sức để đảm bảo rằng quá trình thi cử này không bị vẩn đục. Kết quả là những học sinh được nhận vào thường có tài năng và nhiều người đã thành công trong việc bổ sung kiến thức cho chương trình học lỗi thời bằng cách tự học.

[6] Trong những năm gần đây, các trường đại học tư nhân đã nở rộ. Tuy nhiên, những trường này vẫn phải chịu nhiều kiểm soát giống như đại học công. Hầu hết trong số đó là các tổ chức tìm kiếm lợi nhuận và dựa vào học phí để tạo ra lợi nhuận; và kết quả là chất lượng đồng loạt thấp.

[7] Trường "Đại học Việt Đức" là trường đại học mới đầu tiên kiểu này. Nó được mô tả như là một dự án liên kết giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền Đức.

[8] Chúng tôi đã khuyến nghị chính quyền Việt Nam là nó cần tập trung một tập đoàn các trường đại học Mỹ để xây dựng một trường nghiên cứu, ban đầu là để cung cấp giảng dạy đại học, rồi từ từ đưa ra các chương trình giảng dạy sau đại học.

Ứng phó thế nào với khủng hoảng giáo dục đại học VN?

Đối phó

Các chính sách của Chính phủ

Trong phần lớn giai đoạn từ năm 1986 khi Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi mới, cũng chính là quá trình cải tổ và tự do hoá nền kinh tế của đất nước này, tốc độ cải tổ giáo dục ĐH – CĐ gần như đóng băng. Trong suốt giai đoạn này, chất lượng bị đình trệ đến mức một số nhà khoa học Việt Nam đã tin rằng chất lượng giảng dạy các môn học nòng cốt, ví dụ như các môn khoa học cơ bản, đã giảm sút [5].

Trong ba năm trở lại đây, Chính phủ đã đặt ưu tiên cao hơn đối với việc cải cách giáo dục. Năm 2005, Chính phủ đã đưa ra dự thảo Chiến lược giáo dục 14 nhằm “đổi mới toàn diện giáo dục ĐH - CĐ” đến năm 2020. Đây là một bước ngoặt, kêu gọi cải cách quản lý, bao gồm tính tự trị cao hơn về thể chế và các cơ chế chọn lựa dựa trên thành tích. Tuy còn chưa đánh giá được tác động của Chiến lược 14 đến quá trình hoạch định chính sách, nhưng tốc độ thay đổi vẫn còn rất chậm.

Ảnh: 100years.vnu.edu.vn

Gần đây hơn cả, Chính phủ đã công bố sáng kiến thành lập một loạt cơ sở mới kết hợp với các đối tác nước ngoài và thể hiện thái độ sẵn sàng cam kết với những nguồn vốn vay từ các tổ chức đa phương như Ngân hàng thế giới (WB). Tuy chính sách này cho thấy một sự ghi nhận nồng nhiệt đối với nhu cầu xây dựng những cơ sở giáo dục ĐH – CĐ mới, nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi bị bỏ ngỏ.

Ngành giáo dục Việt Nam vẫn duy trì một cách nhìn “công quản” đối với việc hợp tác trong giáo dục ĐH – CĐ, trong đó, chính quyền, chứ không phải các cơ sở, mới là những đối tác chủ yếu. Cách tiếp cận này đặc biệt không phù hợp để làm việc với hệ thống phân quyền của Mỹ, trong đó mỗi trường đại học là một nhân tố quan trọng còn vai trò của Chính phủ thì rất hạn chế.

Thứ hai, Chính phủ đã thể hiện một tâm lý “kế hoạch tập trung” trong việc thiết kế những sáng kiến phát triển thể chế này, trong đó có việc định trước các lĩnh vực mà mỗi trường đại học sẽ tập trung vào (những đề xuất ban đầu còn cho rằng chỉ nên tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến khoa học và công nghệ, có thể loại bỏ khoa học nhân văn và nhiều khoa học xã hội khác).

Thứ ba, mặc dù sáng kiến này được xác định dựa trên ý niệm chung là các đối tác quốc tế sẽ cung cấp các nhà quản trị và cán bộ giảng dạy, nhưng cơ chế cấp vốn vẫn chưa xác định; vẫn không rõ ràng là nguồn vốn vay từ các nhà tài trợ đa phương có thể dùng cho các đối tác quốc tế không.

Cuối cùng, vẫn còn phải chờ xem các cơ sở này sẽ có thể có được bao nhiêu sự tự trị thực chất [6].

Trao đổi

Số người Việt Nam đi du học đã tăng lên đáng kể từ năm 1986. Trong những năm đầu Đổi mới, hầu hết họ đi học qua các chương trình học bổng song và đa phương như chương trình Fulbright, chương trình của WB… Khi xã hội Việt Nam trở nên khá giả hơn, nhiều gia đình Việt Nam bắt đầu cho con đi du học tự túc. Mấy năm gần đây đã chứng kiến số lượng tăng đặc biệt nhanh các sinh viên du học tại Mỹ; theo Viện giáo dục quốc tế, Việt Nam đứng trong số 20 nước có nhiều sinh viên đến Mỹ du học nhất. Các nhà kinh tế học Việt Nam ước tính các gia đình Việt Nam phải chi ít nhất một tỉ USD một năm cho con du học.

Du học cũng là phản ứng quan trọng đối với cuộc khủng hoảng trong giáo dục ĐH – CĐ Việt Nam, nhưng đó lại không phải là giải pháp. Trước hết, du học chỉ là sự lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ hoặc có đủ tiền hoặc may mắn giành được học bổng. Vẫn còn một khoảng cách rộng và ngày càng lớn về cơ hội giữa nông thôn và thành thị, giữa một số ít người giàu có và phần lớn người nghèo. Việt Nam là một quốc gia rộng và không thể “outsource” giáo dục ĐH – CĐ cho các trường đại học nước ngoài.

Thứ hai, chừng nào các trường đại học Việt Nam còn tiếp tục những điều kiện làm việc kém và những khuyến khích không hấp dẫn, những người đi du học về sẽ tiếp tục lảng tránh làm việc tại những trường này. Các cuộc điều tra không chính thức đối với các sinh viên cao học Việt Nam ở Mỹ cho thấy một phần rất lớn sẽ không quay về các trường đại học đang có ở Việt Nam nhưng sẽ cân nhắc trở về nếu môi trường làm việc hấp dẫn hơn.

Các nhân tố quốc tế

Các nhà tài trợ quốc tế đã ủng hộ việc trao đổi trên từ nhiều năm nay. Theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam, các nhà tài trợ hiện đang đầu tư mạnh vào hệ thống giáo dục ĐH – CĐ. Theo chúng tôi, nỗ lực của các nhà tài trợ trong lĩnh vực này đã trở nên thiếu hiệu quả do họ không làm được gì nhiều với những vấn đề liên quan đến quản lý. Vốn tài trợ đã không được giải ngân dựa trên cạnh tranh, và các cơ sở nhận vốn cũng không được lên tiếng nhiều về việc vốn đó sẽ được sử dụng ra sao.

Ảnh: timnhanh.com

Các trường đại học quốc tế đang được khuyến khích thiết lập các chương trình đào tạo tại Việt Nam, hoặc là độc lập hoặc là (phổ biến hơn cả) liên kết với các cơ sở trong nước. Không có nhiều ngoại lệ, các sáng kiến này thường là vì lợi nhuận và hậu quả là tập trung vào một số nhỏ lĩnh vực mà thị trường đang có nhu cầu (ví dụ marketing, quản trị, lập trình máy tính…). Sinh viên được nhận chủ yếu phải có khả năng trả học phí, do đó chỉ bó hẹp trong một nhóm thiểu số nhỏ và nằm ngoài tầm tay của đa số. Nói chính xác nhất là những vụ đầu tư này chỉ chiếm một góc nhỏ trong hệ thống giáo dục ĐH – CĐ. Chúng không đáp ứng được nhu cầu về giáo dục chất lượng cao.

Chính phủ thì rất hăng hái thu hút các trường đại học quốc tế hàng đầu, đặc biệt là của Mỹ. Chúng tôi đã tranh luận rằng có ít nhất ba điều cốt yếu để hiện thực hóa được mục tiêu này. Đầu tiên, Chính phủ phải nhận ra rằng các trường đại học chất lượng sẽ không vào Việt Nam với tư cách nhà đầu tư. Hơn thế, trong cuộc đua giành người tài toàn cầu, các trường đại học Mỹ luôn là những đối tác được săn tìm nhiều nhất. Nói thẳng ra là Việt Nam phải chịu chi.

Thứ hai, và không kém phần quan trọng, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng các trường đại học danh tiếng sẽ không thỏa hiệp về các tiêu chuẩn giảng dạy của họ và Chính phủ phải cam kết một cách mạnh mẽ về việc quản lý tốt, bao gồm cả việc cho phép nhiều tự do học thuật và tự trị hơn là phạm vi hiện đang có ở Việt Nam.

Thứ ba, vì giáo dục ĐH – CĐ của Mỹ phân quyền rất mạnh, nên Chính phủ Mỹ sẽ chỉ đóng vai trò rất hạn chế, chỉ là vai trò tạo điều kiện trong việc đẩy mạnh sự tham gia của các trường đại học Mỹ.

Kết luận: Nhu cầu cải cách sâu rộng

Cải cách quản lý sâu rộng là chìa khóa cho việc cải thiện giáo dục ĐH – CĐ Việt Nam. Tuy nhiên, đổi mới các cơ sở giảng dạy ở bất cứ đâu đều là một quá trình lâu dài. Đó là lý do tại sao chúng tôi tin rằng Việt Nam phải xây dựng một cơ sở giáo dục ĐH - CĐ hoàn toàn mới mà ngay từ khi bắt đầu đã phải có được sự quản lý tốt ngay trong gen thể chế của mình [7]. Một nỗ lực như vậy sẽ có một tác động mang tính biến đổi đối với giáo dục ĐH – CĐ Việt Nam. Một cơ sở mới sẽ mở ra một mái ấm hấp dẫn đối với các học giả và nhà khoa học Việt Nam trẻ hiện đang không mặn mà lắm với việc theo đuổi sự nghiệp học thuật ở Việt Nam.

Thứ hai, một cơ sở mới sẽ là hình mẫu cho các trường đại học khác học theo và tranh đua – cũng là một nguồn sức sống và cạnh tranh rất cần thiết.