Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2009

Ứng phó thế nào với khủng hoảng giáo dục đại học VN?

Đối phó

Các chính sách của Chính phủ

Trong phần lớn giai đoạn từ năm 1986 khi Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi mới, cũng chính là quá trình cải tổ và tự do hoá nền kinh tế của đất nước này, tốc độ cải tổ giáo dục ĐH – CĐ gần như đóng băng. Trong suốt giai đoạn này, chất lượng bị đình trệ đến mức một số nhà khoa học Việt Nam đã tin rằng chất lượng giảng dạy các môn học nòng cốt, ví dụ như các môn khoa học cơ bản, đã giảm sút [5].

Trong ba năm trở lại đây, Chính phủ đã đặt ưu tiên cao hơn đối với việc cải cách giáo dục. Năm 2005, Chính phủ đã đưa ra dự thảo Chiến lược giáo dục 14 nhằm “đổi mới toàn diện giáo dục ĐH - CĐ” đến năm 2020. Đây là một bước ngoặt, kêu gọi cải cách quản lý, bao gồm tính tự trị cao hơn về thể chế và các cơ chế chọn lựa dựa trên thành tích. Tuy còn chưa đánh giá được tác động của Chiến lược 14 đến quá trình hoạch định chính sách, nhưng tốc độ thay đổi vẫn còn rất chậm.

Ảnh: 100years.vnu.edu.vn

Gần đây hơn cả, Chính phủ đã công bố sáng kiến thành lập một loạt cơ sở mới kết hợp với các đối tác nước ngoài và thể hiện thái độ sẵn sàng cam kết với những nguồn vốn vay từ các tổ chức đa phương như Ngân hàng thế giới (WB). Tuy chính sách này cho thấy một sự ghi nhận nồng nhiệt đối với nhu cầu xây dựng những cơ sở giáo dục ĐH – CĐ mới, nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi bị bỏ ngỏ.

Ngành giáo dục Việt Nam vẫn duy trì một cách nhìn “công quản” đối với việc hợp tác trong giáo dục ĐH – CĐ, trong đó, chính quyền, chứ không phải các cơ sở, mới là những đối tác chủ yếu. Cách tiếp cận này đặc biệt không phù hợp để làm việc với hệ thống phân quyền của Mỹ, trong đó mỗi trường đại học là một nhân tố quan trọng còn vai trò của Chính phủ thì rất hạn chế.

Thứ hai, Chính phủ đã thể hiện một tâm lý “kế hoạch tập trung” trong việc thiết kế những sáng kiến phát triển thể chế này, trong đó có việc định trước các lĩnh vực mà mỗi trường đại học sẽ tập trung vào (những đề xuất ban đầu còn cho rằng chỉ nên tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến khoa học và công nghệ, có thể loại bỏ khoa học nhân văn và nhiều khoa học xã hội khác).

Thứ ba, mặc dù sáng kiến này được xác định dựa trên ý niệm chung là các đối tác quốc tế sẽ cung cấp các nhà quản trị và cán bộ giảng dạy, nhưng cơ chế cấp vốn vẫn chưa xác định; vẫn không rõ ràng là nguồn vốn vay từ các nhà tài trợ đa phương có thể dùng cho các đối tác quốc tế không.

Cuối cùng, vẫn còn phải chờ xem các cơ sở này sẽ có thể có được bao nhiêu sự tự trị thực chất [6].

Trao đổi

Số người Việt Nam đi du học đã tăng lên đáng kể từ năm 1986. Trong những năm đầu Đổi mới, hầu hết họ đi học qua các chương trình học bổng song và đa phương như chương trình Fulbright, chương trình của WB… Khi xã hội Việt Nam trở nên khá giả hơn, nhiều gia đình Việt Nam bắt đầu cho con đi du học tự túc. Mấy năm gần đây đã chứng kiến số lượng tăng đặc biệt nhanh các sinh viên du học tại Mỹ; theo Viện giáo dục quốc tế, Việt Nam đứng trong số 20 nước có nhiều sinh viên đến Mỹ du học nhất. Các nhà kinh tế học Việt Nam ước tính các gia đình Việt Nam phải chi ít nhất một tỉ USD một năm cho con du học.

Du học cũng là phản ứng quan trọng đối với cuộc khủng hoảng trong giáo dục ĐH – CĐ Việt Nam, nhưng đó lại không phải là giải pháp. Trước hết, du học chỉ là sự lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ hoặc có đủ tiền hoặc may mắn giành được học bổng. Vẫn còn một khoảng cách rộng và ngày càng lớn về cơ hội giữa nông thôn và thành thị, giữa một số ít người giàu có và phần lớn người nghèo. Việt Nam là một quốc gia rộng và không thể “outsource” giáo dục ĐH – CĐ cho các trường đại học nước ngoài.

Thứ hai, chừng nào các trường đại học Việt Nam còn tiếp tục những điều kiện làm việc kém và những khuyến khích không hấp dẫn, những người đi du học về sẽ tiếp tục lảng tránh làm việc tại những trường này. Các cuộc điều tra không chính thức đối với các sinh viên cao học Việt Nam ở Mỹ cho thấy một phần rất lớn sẽ không quay về các trường đại học đang có ở Việt Nam nhưng sẽ cân nhắc trở về nếu môi trường làm việc hấp dẫn hơn.

Các nhân tố quốc tế

Các nhà tài trợ quốc tế đã ủng hộ việc trao đổi trên từ nhiều năm nay. Theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam, các nhà tài trợ hiện đang đầu tư mạnh vào hệ thống giáo dục ĐH – CĐ. Theo chúng tôi, nỗ lực của các nhà tài trợ trong lĩnh vực này đã trở nên thiếu hiệu quả do họ không làm được gì nhiều với những vấn đề liên quan đến quản lý. Vốn tài trợ đã không được giải ngân dựa trên cạnh tranh, và các cơ sở nhận vốn cũng không được lên tiếng nhiều về việc vốn đó sẽ được sử dụng ra sao.

Ảnh: timnhanh.com

Các trường đại học quốc tế đang được khuyến khích thiết lập các chương trình đào tạo tại Việt Nam, hoặc là độc lập hoặc là (phổ biến hơn cả) liên kết với các cơ sở trong nước. Không có nhiều ngoại lệ, các sáng kiến này thường là vì lợi nhuận và hậu quả là tập trung vào một số nhỏ lĩnh vực mà thị trường đang có nhu cầu (ví dụ marketing, quản trị, lập trình máy tính…). Sinh viên được nhận chủ yếu phải có khả năng trả học phí, do đó chỉ bó hẹp trong một nhóm thiểu số nhỏ và nằm ngoài tầm tay của đa số. Nói chính xác nhất là những vụ đầu tư này chỉ chiếm một góc nhỏ trong hệ thống giáo dục ĐH – CĐ. Chúng không đáp ứng được nhu cầu về giáo dục chất lượng cao.

Chính phủ thì rất hăng hái thu hút các trường đại học quốc tế hàng đầu, đặc biệt là của Mỹ. Chúng tôi đã tranh luận rằng có ít nhất ba điều cốt yếu để hiện thực hóa được mục tiêu này. Đầu tiên, Chính phủ phải nhận ra rằng các trường đại học chất lượng sẽ không vào Việt Nam với tư cách nhà đầu tư. Hơn thế, trong cuộc đua giành người tài toàn cầu, các trường đại học Mỹ luôn là những đối tác được săn tìm nhiều nhất. Nói thẳng ra là Việt Nam phải chịu chi.

Thứ hai, và không kém phần quan trọng, chúng tôi đã nhấn mạnh rằng các trường đại học danh tiếng sẽ không thỏa hiệp về các tiêu chuẩn giảng dạy của họ và Chính phủ phải cam kết một cách mạnh mẽ về việc quản lý tốt, bao gồm cả việc cho phép nhiều tự do học thuật và tự trị hơn là phạm vi hiện đang có ở Việt Nam.

Thứ ba, vì giáo dục ĐH – CĐ của Mỹ phân quyền rất mạnh, nên Chính phủ Mỹ sẽ chỉ đóng vai trò rất hạn chế, chỉ là vai trò tạo điều kiện trong việc đẩy mạnh sự tham gia của các trường đại học Mỹ.

Kết luận: Nhu cầu cải cách sâu rộng

Cải cách quản lý sâu rộng là chìa khóa cho việc cải thiện giáo dục ĐH – CĐ Việt Nam. Tuy nhiên, đổi mới các cơ sở giảng dạy ở bất cứ đâu đều là một quá trình lâu dài. Đó là lý do tại sao chúng tôi tin rằng Việt Nam phải xây dựng một cơ sở giáo dục ĐH - CĐ hoàn toàn mới mà ngay từ khi bắt đầu đã phải có được sự quản lý tốt ngay trong gen thể chế của mình [7]. Một nỗ lực như vậy sẽ có một tác động mang tính biến đổi đối với giáo dục ĐH – CĐ Việt Nam. Một cơ sở mới sẽ mở ra một mái ấm hấp dẫn đối với các học giả và nhà khoa học Việt Nam trẻ hiện đang không mặn mà lắm với việc theo đuổi sự nghiệp học thuật ở Việt Nam.

Thứ hai, một cơ sở mới sẽ là hình mẫu cho các trường đại học khác học theo và tranh đua – cũng là một nguồn sức sống và cạnh tranh rất cần thiết.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét