Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

Văn hóa phương Tây với chiến lược "mưa dầm thấm lâu"

(TuanVietNam) - Xu thế toàn cầu hóa đang là đặc điểm chi phối thời đại. Giao lưu văn hóa, truyền bá văn hóa giữa các quốc gia là chuyện bình thường. Không chỉ văn hóa - nghệ thuật từ các quốc gia láng giềng mà văn hóa phương Tây cũng đang nhịp nhàng "cạnh tranh" với văn hóa Việt ngay tại đất Việt.


Tiếp cận tổng lực

Khó người dân nào ở Hà Nội hay TP. HCM có thể "đổ thừa" là "tôi đói văn hóa" nếu cất công tham gia những sự kiện dày đặc do các nước Âu - Mỹ tổ chức ở VN từ đầu năm đến nay.

Trong tháng 5 là Những Ngày Châu Âu, diễn ra trong gần một tháng với những hoạt động như: Triển lãm của phái Đoàn Wallonie - Bruxelles tại VN, Tuần lễ phim Phần Lan, Hòa nhạc cổ điển Pháp Stradivaria, Hòa nhạc phim câm, Trao giải cuộc thi vẽ tranh của trẻ em về bình đẳng giới, Các đại sứ EU trò chuyện về châu Âu tại các trường đại học, Giao hữu bóng đá thiếu nhi EU và VN, Liên hoan ẩm thực châu Âu, Hòa nhạc Sibelius của Phần Lan, Hồi tưởng về đạo diễn Anh John Schlesinger qua một chùm phim, Trao giải cuộc thi viết về biến đổi khí hậu, Đêm nhạc vũ Tây Ban Nha...

"Những Ngày Châu Âu" được tổ chức tại VN từ năm 2004 đến nay

Liên hoan phim châu Âu kỷ niệm 10 năm hiện diện tại Việt Nam với sự tham gia đông đảo nhất từ trước tới nay của 14 nước thành viên thuộc Liên minh châu Âu.

Tất cả các sự kiện này hầu hết đều miễn phí vé cho người xem, chỉ cần đăng ký trước hoặc trực tiếp đến các trung tâm văn hóa, văn phòng đại sứ các nước để nhận. Những nơi như Trung tâm Văn hóa Pháp (L"espace), Viện Geothe... cũng có khá đông khán giả trẻ đi xin vé. Không có cảnh xếp hàng dài dằng dặc như hồi người Hà Nội chen chúc xem Lễ hội hoa anh đào của Nhật Bản.

2 đêm hòa nhạc phim câm
"Chiến hạm Potemkin" (với đích thân nhà soạn nhạc Pierre Oser sang biểu diễn piano cùng một nghệ sĩ khác piano nữa là Frank Strobel, song song với những thước phim câm) ở Hà Nội, một đêm ở TP. HCM đều kín khán phòng.

Đất nước Đan Mạch đem tới chương trình hợp xướng được dàn dựng rất công phu: Nhạc trưởng
Ebbe Munk cùng 50 nghệ sĩ biểu diễn hợp xướng của Đan Mạch thuộc Dàn Hợp xướng Hoàng gia Copenhagen đã hòa giọng cùng nghệ sĩ hợp xướng Việt Nam (tối 11/5).

Người Pháp cũng không kém cạnh. Lễ hội mùa Xuân nước Pháp với hàng loạt chương trình được Trung tâm Văn hóa Pháp tại VN lên lịch, từ các đêm hòa nhạc đa phong cách đến các cuộc hội thảo về văn hóa - xã hội.

Từ TP. HCM với 6 suất chiếu liên tục, ra Hà Nội với 3 suất chiếu là vở kịch "Romeo và Juliet" đến từ nước Anh. Chính công ty Lê Quý Dương của Việt Nam hợp tác với Nhà hát TNT Britain của Anh để dũng cảm đưa các nghệ sĩ Anh sang biểu diễn.

Liên hoan phim ASEM diễn ra trong khoảng thời gian từ 15 - 22/5 với 15 phim tiêu biểu của các nền điện ảnh Á - Âu. Cả mấy chục bộ phim trong thời điểm này phục vụ miễn phí như thế, khán giả tha hồ xem và bình luận.

Văn hóa Việt tương tác trở lại ra sao?

Sau Ngày hội văn hóa các dân tộc VN, ngay sau đợt chiếu phim VN dịp 30/4 của Nhà nước thì phim Việt lại lùi vào dĩ vãng cho các bộ phim "bom tấn" mùa hè của Mỹ và HongKong, Hàn Quốc nối nhau ra rạp. Lại những khoảng trống lớn được hình thành. Riêng về phim thì cứ mỗi năm đến hè chúng ta mới nhận rõ là thị trường điện ảnh trong nước mới chỉ có "phim bánh mứt" phục vụ "khán giả bánh mứt" vào mỗi dịp Tết Nguyên đán mà thôi.

Hợp xướng Đan Mạch, Vở kịch "Romeo và Juliet" của Anh và tác phẩm thuộc dự án "Bên trong thành phố" của Hội đồng Anh

Thỉnh thoảng cũng có những hoạt động quảng bá văn hóa được giới thiệu, nhưng với hiệu ứng chưa cao từ các sự kiện ấy, nên có thể nói chiến lược và sự hợp tác phát triển văn hóa - nghệ thuật trong nước của chúng ta còn tản mạn, rời rạc ngay tại trong nước. Văn hóa Việt vốn phong phú, đặc sắc, nhưng để có những hoạt động sôi nổi đi ra bên ngoài như các nước đang làm ở VN thì rõ ràng vẫn còn phải... chờ .

Trong khi đó, các nước quanh ta như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đều xác lập được một vị trí nhất định với những sự kiện văn hóa hay các tác phẩm phim ảnh họ mang đến.

Các trung tâm văn hóa - giáo dục của nước ngoài với nguồn kinh phí dồi dào nối nhau tổ chức các sự kiện văn hóa với cách thức - chiến lược rõ ràng, cách tổ chức gọn gàng, hiệu quả.

Hiệu quả của các hoạt động văn hóa kiểu "mưa dầm thấm lâu" đã nhìn thấy được qua Trung tâm Văn hóa Pháp, Viện Geothe, Hội đồng Anh ở Việt Nam.

Từ khi bắt tay vào hoạt động với những chương trình nhỏ gọn, thông báo phát vé mời miễn phí tới bất cứ công chúng nào, qua nhiều năm đến nay, họ đã thu hút được một lượng khán giả cố định, quen thuộc. Mỗi chương trình diễn ra là "tập khách hàng" này đều nhận được thông tin đầy đủ.

Trung tâm Văn hóa Pháp ngày một tổ chức nhiều hoạt động phong phú hơn và từ khi phát vé miễn phí đến nay đã bán vé. Thực tế giá vé họ đưa ra không cao quá 100.000 đồng/ vé cho các chương trình hòa nhạc, biểu diễn nghệ thuật, tức doanh thu không đáng kể. Tuy nhiên, điều này mang lại nhiều ý nghĩa, họ thu được lại lượng khán giả có nhu cầu thưởng thức thật sự và tác động đến thói quen chỉ dùng vé mời của khán giả Việt.

Chị Vũ Ngọc Trâm, cán bộ quản lý văn hóa nghệ thuật của Hội đồng Anh, cho biết: "Trong những chương trình tới đây, chúng tôi cũng sẽ lên kế hoạch bán vé. Mỗi cơ quan văn hóa, giáo dục như chúng tôi có một hướng đi riêng và thế mạnh riêng trong việc đưa ra các chương trình đến công chúng nên không sợ hoạt động chồng chéo nhau".

Thực tế, không chỉ giới thiệu, quảng bá và hỗ trợ văn hóa mà các đơn vị kể trên đã ít nhiều trở thành các nhà "bảo trợ văn hóa" qua một số hoạt động cụ thể.

Chẳng hạn, dự án
"Bên trong thành phố" với triển lãm cùng tên của Hội đồng Anh (British Council) vừa diễn ra vào 15/5 có sự tham gia của các phóng viên, nhiếp ảnh gia, nghệ sĩ Việt Nam là hoàn toàn là bức tranh đa sắc về cuộc sống người dân Hà Nội. Mục tiêu mà các trung tâm văn hóa nước ngoài hướng đến đã bộc lộ rất rõ ràng là tiếp cận nước sở tại bằng thế chân kiềng văn hóa - giáo dục và kinh tế.

Để làm được điều đó, nhân lực chính để tổ chức các hoạt động văn hóa của họ cũng chỉ cần rất ít. Như L"espace có 4 người, British Council chỉ có 2 người.

Thời đại giao lưu văn hóa, truyền bá văn hóa đã được thể hiện thật rõ ràng ở Việt Nam. Có điều, đã là giao lưu thì phải có hai chiều. Văn hóa phương Tây và châu Á đã tác động tới cuộc sống của người dân Việt, còn văn hóa Việt tác có sự tương tác trở lại ra sao, câu trả lời lẽ nào vẫn là "đường xa vạn dặm"?...

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009

Qui hoạch đô thị “ngứa đâu gãi ”đó

Ở nước ta, một thời, qui hoạch đô thị là một nghề quan trọng, thậm chí sang trọng. Khác với các nghề khác, qui hoạch đô thị có điều kiện được tiếp cận thông tin ”được coi là mật”, được “các anh lớn” nói cho nghe “tình hình hiện nay và nhiệm vụ của chúng ta”. Sau mỗi lần qui hoạch được thông qua, cảm giác nhiệm vụ đã được hoàn thành, vừa làm xong một việc lớn, hữu ích, cho đất nước cho nhân dân, là một cảm giác lâng lâng, khó tả.


Từ bao cấp đến thị trường

Thời qui hoạch đô thị của cơ chế “kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp”, Nhà nước vẽ, Nhà nước làm, nhân dân ăn theo, may nhờ rủi chịu. Mô hình kinh tế chỉ có hai hình thức sở hữu: quốc doanh và tập thể. Còn cách sống đô thị chủ yếu là chung cư (không quá năm tầm để có thể tự leo) với ba cấp phục vụ: tiểu khu, khu nhà ở và cấp thành phố.

Khu chung cư cao cấp ở Việt Nam. Ảnh: VNN

Không có chuyện tự do xây nhà, mở quán, buôn bán, làm ăn. Mọi nhu cầu của dân đã có mậu dịch quốc doanh tính toán, từ ký đường, ký thịt, chai nước mắm, lưỡi dao cạo, ống kem đánh răng… Cuộc sống thị dân được “lập trình” từ thủa lọt lòng ở nhà hộ sinh đến lúc răng long đầu bạc (đã có một chỗ nằm qui hoạch trước nơi nghĩa trang thành phố). Anh công nhân mới tuyển vào biên chế, đến nhà khoa học mái đầu bạc trắng, đeo cặp kính to đùng, tiêu chuẩn ăn ở đã có ba-rem tính trước, cứ yên tâm làm việc, cống hiến đến khi từ giã cõi đời.

Cuộc sống giản đơn nên quy hoạch cũng đơn giản. Việc lớn có trên lo. Kiến trúc sư quy hoạch chỉ việc vẽ, một thao tác kỹ thuật thuần túy theo quy trình, ai cũng làm được, thành phố nào cũng đúc từ một khuân, như sinh sản vô tính.

Đất nước còn nghèo, kinh tế chưa phát triển, lâu lâu, có chủ trương xây dựng một công trình gì đó, cần quy hoạch chỉ ra một địa điểm để cơ quan thiết kế nghiên cứu công trình, phục vụ cho đơn vị thi công đang đợi. Vì vậy phương châm ngành một thời “Quy hoạch phục vụ thiết kế - thiết kế phục vụ thi công”, khi nào ngứa mới gãi, không mang lại lợi ích gì nhiều, cũng chẳng tác hại bao nhiêu, chỉ tốn ít giấy mực và một số ngày công cán bộ. Mà cũng chẳng cần cán bộ giỏi làm gì. Vì có làm gì đâu mà cần người giỏi. Ai làm chả được. Đấy chính là lý do rất nhiều ông kỹ sư, kể cả không phải là kỹ sư, được giao làm viện trưởng các viện quy hoạch đô thị.

Tất nhiên, không thể phủ nhận cách làm quy hoạch kiểu “ngứa đâu gãi đó”, trong nhiều năm đã đáp ứng kịp thời một số không nhiều những yêu cầu bức thiết của đất nước khi vừa ra khỏi chiến tranh, bước vào cuộc sống đô thị, cái gì cũng thiếu.

Ở một tỉnh miền Tây, quy hoạch được duyệt, dự báo đến 25 năm sau, nhưng tiền đâu thực hiện, thôi thì trải nhựa mỗi con hẻm vào nhà ông bí thư, vì trước khi lên chức bí thư, con hẻm nhà ông hơi lầy lội. Hết nhiệm kỳ, ông bí thư khác lên, quy hoạch được làm lại, tiền quy hoạch ngân sách trung ương rót làm lại cho mới.

Phải nói chuyện “biết rồi khổ lắm…” này vì nó đang là một trong những nguyên nhân của nhiều “tồn tại ”hôm nay. Tàn dư của cách nghĩ, cách làm một thời.

Từ ngày “Đổi mới ” theo cơ chế thị trường, toàn xã hội tham gia công cuộc “dân giàu - nước mạnh”, kinh tế nhiều thành phần, bình đẳng, hội nhập, phấn đấu đến 2020 đứng vào hàng ngũ những quốc gia hiện đại, trong đó có những thành phố hiện đại, quy hoạch đô thị đâm rối.

Giống như một nghệ sĩ được đào tạo theo ngành cải lương, nay “đùng một cái” chuyển sang nhạc trẻ, pop, rock. Cũng hệ thống loa, micro, dàn kèn, dàn trống ấy, nhưng khúc thức, tiết tấu giai điệu đã khác, cho nên không thể tránh được rối ren.

Không như trước đây, mỗi năm xây dựng vài ba công trình. Nay vốn liếng dồi dào, nguồn đầu tư phong phú, gần như cùng lúc, không chỉ một vài chỗ ngứa, mà ngứa toàn thân. Nhưng gãi thế nào để không gây thương tích, cơ thể phát triển lành mạnh, là việc làm của quy hoạch đô thị. Tức là phải có phương pháp.

Nhưng phương pháp nào? Ông tiến sĩ học ở Mỹ về, khuyên nên làm theo cách Mỹ. Ông tiến sĩ khác học ở Nhật về lại khuyên làm theo cách của Nhật. Nhiều ông tiến sĩ đi học ở nhiều nước, cho nhiều lời khuyên, rút cục không biết theo ông nào! Đã không biết theo ai thì tốt nhất ta lại làm như cũ.

Dự thảo “Luật Quy hoạch ”chuẩn bị trình Quốc hội là điển hình cho cách nghĩ cũ, cách làm cũ, trong khi thực tiễn cuộc sống đã đi khá xa để lại khá nhiều khoảng trống.

Khoảng trống đầu tiên là nhận thức

Nói gì thì nó,i mục tiêu sau cùng của công việc quy hoạch một thành phố phải nhắm đến là: chất lượng cuộc sống của cộng đồng cư dân đô thị. Mô hình tổ chức xã hội đô thị là đối tượng đầu tiên cần được nghiên cứu.

Cũng như thiết kế và xây dựng một ngôi nhà, việc trước hết là khảo sát cách sống của chính những người sẽ cư ngụ trong ngôi nhà đó, thứ đến mới tìm cách thiết kế xây dựng ngôi nhà sao cho phù hợp. Nhưng ở ta, lĩnh vực tối quan trọng này - xã hội học đô thị - một lĩnh vực có giá trị đầu bài cho quy hoạch đô thị thì hầu như bỏ ngỏ, không ai nghiên cứu, thậm chí chưa có chủ trương.

Một góc thành phố Hồ Chí MInh . Ảnh: wikipedia

Đô thị việt Nam, đân cư phần lớn có nguồn gốc nông thôn, nay “đùng một cái” trở thành cư dân đô thị, thay đổi thói quen không phải là chuyện một sớm một chiều. Vượt đèn đỏ, đi vào đường cấm, vứt rác thoải mái, đi họp không đúng giờ chen lấn chỗ đông người là những thói quen cần được thay đổi, tập dượt, đòi hỏi thời gian. Trong khi các bản vẽ đồ án quy hoạch - nay được thể hiện bằng máy - đẹp không thua gì các thành phố bên Tây, thì ở ngoài đường cuộc sống vẫn trôi theo nhịp điệu của mình.

Giữa bản vẽ và cuộc sống của những con người sẽ sống trong những bản vẽ đó, có một khoảng cách khá xa. Tp. Hồ Ch
í Minh chủ trương lấy năm 2008 làm năm xây dựng nếp sống đô thị. Tưởng kết thúc trong năm, nay buộc phải kéo dài, chưa biết đến bao giờ. “Đùng một cái”, cấm xe ba bánh tự chế, càm hàng rong, nay chuẩn bị quản lý xe ôm là cũng thấy ngứa mà gãi. Gãi xong lại ngứa.

Ông cha ta đã bảo: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Đủ diện tích mặt đường cho xe chạy, vỉa hè đủ rộng cho dân đi, thì không ai đi xuống lòng đường làm gì. Mọi thứ đổ cho người dân thiếu ý thức, nghĩ cũng hơi tội nghiệp.

Khi quy hoạch đô thị không còn là bí mật quốc gia, chuyện bàn thảo “chốn cung đình”, việc xây dựng và phát triển thành phố trở nên quan thiết đến đời sống hàng triệu dân cư, đến đời sống của từng người, những nét vẽ trên bản đồ nay phải tính ra đồng tiền bát gạo, tìm kiếm nguồn lực, nếu không muốn trở thành “quy hoạch treo” - một khái niệm, một thuật ngữ sản sinh từ thực tiễn sinh động của nước ta, chưa hề có trong bất cứ từ điển ngôn ngữ nào, một dân tộc nào, quốc gia nào trên thế giới này.

Ông tổng biên tập tạp chí chuyên ngành quy hoạch, đã phải thốt lên:
“Chúng tôi thực sự không muốn trao đổi về quy hoạch treo vì không có loại hình quy hoạch này trong thuật ngữ quy hoạch thế giới” (Tạp chí Quy hoạch Xây dựng – số 22 – trang 5). Cơ quan quy hoạch làm theo từ điển, còn “quy hoạch treo” vẫn cứ là một thực tiễn hãi hùng, mang tính đặc thù thuần Việt, có nguyên nhân từ phương pháp quy hoạch ngứa đâu gãi đấy, phục vụ nhất thời hiện nay.

Khoảng trống thứ hai là nhân lực

Khoảng trống thứ hai là nhân lực. Ảnh: love.com.vn

Quy hoạch đô thị là một khoa học liên ngành. Ngoài lĩnh vực kiến trúc, còn sự phối hợp của nhiều bộ môn khác như kinh tế đô thị, cây xanh và cảnh quan, môi trường, cấp nước và thoát nước, cung cấp điện và thông tin… chưa kể lĩnh vực thiết kế xã hội và một số bộ môn khác. So với nhu cầu phát triển đô thị hiện nay, lực lượng quy hoạch đô thị vừa thiếu, vừa yếu.

Ngay ở TP. Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội, nơi tập trung đông đảo lực lượng chuyên môn với mật độ cao xem ra cũng không kham nổi khối lượng công việc mà thành phố đòi hỏi. Vì vậy gần đây, việc thuê tư vấn nước ngoài đang là xu hướng được nhiều địa phương nhăm nhe lựa chọn.

Và như vậy gần như ta thuê Tây nấu ăn. Ba-tê, xúc xích có thể ngon, nhưng đấy là cỗ Tây, mà người Việt lại đang cần những bữa ăn ngon, bổ, rẻ hợp khẩu vị truyền thống và cũng muốn giới thiệu với thế giới là một quốc gia, một dân
tộc có bản sắc văn hóa riêng của mình. Chả thế có người nói rằng: “Đi đến cùng dân tộc, sẽ gặp lại nhân loại”. Nhưng dân tộc trong bản sắc đô thị là gì? Câu hỏi không ai trả lời!

Trong khi đó, một số lớn giáo sư, tiến sĩ thường hay rao giảng các kiến thức đô thị phương Tây mà trong ngành thường gọi tắt là “giáo sĩ”, lại không thấy một công trình nghiên cứu nào về thực tiễn sinh động này. Nên chăng, Nhà nước cần tập hợp một số “giáo sĩ” năng lực, thừa nhiệt huyết một thời gian, tập trung nghiên cứu một “mô hình đô thị Việt Nam” xuất phát từ thực tiễn đất nước, có tham khảo những tương đồng dị biệt của các quốc gia khác đặng mở lối, giúp các nhà thiết kế có hướng tìm tòi cho những đồ án quy hoạch đô thị sắp tới?

Khoảng trống thứ ba là tổ chức

Đường Nguyễn Hữu Cảnh- Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: phumyhung.com.vn

Ai cũng biết quy hoạch đô thị là một khoa học đa ngành, tác nghiệp trong một tương quan sử dụng đồng thời nhiều phạm trù tri thức liên hệ, từ những quy luật vận động kinh tế- xã hội, những tri thức về khoa học lịch sử, địa lý, những quy tắc về dự báo học, tương lai học… đến những ngành nặng tính kỹ thuật cao như giao thông, kết cấu, địa chất, khí tượng, thủy văn… cho đến những phạm trù tri thức không thể thiếu như mỹ học, kiến trúc, cảnh quan… để có thể cung cấp cho xã hội một đồ án quy hoạch hy vọng có chất lượng.

Phạm vi tác nghiệp trùm lên toàn lãnh thổ nếu đối tượng nghiên cứu là: “Chiến lược đô thị hóa quốc gia”, là “Quy hoạch vùng lãnh thổ”…đến những lĩnh vực chuyên biệt như: “Quy hoạch khu công nghiệp - dịch vụ”, “Quy hoạch hệ thống công viên, hệ thống tượng đài”… trong một tầm nhìn về tương lai của địa phương, của đất nước phát triển trong vài thập niên.

Giao thông tốc độ cao, không gian ngầm là những đề tài phải chuẩn bị trước vài chục năm, nếu không lúc ngứa mới gãi thì đất đai không còn. Mấy bãi đỗ xe ngầm ở khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh không thực hiện được là vì vậy.

Gần đây, người ta đã nói đến tầm nhìn 50 năm hoặc lâu hơn.

Trong lý thuyết, cũng như trong thực tế, đô thị là một cơ thể thống nhất, hoàn chỉnh, phát triển có trình tự, lớp lang, ngứa đâu gãi đấy là điều tối kỵ.

Mạng lưới giao thông đô thị vừa là một không gian đô thị vừa là một không gian kỹ thuật, khung sườn của nhiều “hệ thống giao thông hữu tuyến” khác nữa như điện nước, cống rãnh, thông tin, truyền dẫn… còn là không gian giao tiếp, không gian thẩm mỹ, hoàn toàn khác với vận tải quốc lộ, giao thông liên vùng. Việc giao cho Bộ Giao thông – Vận tải đảm đương trách nhiệm xây dựng và quản lý hệ thống giao thông đô thị dường như trái khoáy. Đường Nguyễn Hữu Cảnh và cầu Văn Thánh tại TP. Hồ Chí Minh là một điển hình.

Khu trung tâm thành phố đang lát vỉa hè. Treo lên lớp vỉa hè đó là một mạng nhện dây điện và cáp điện thoại, truyền hình, viễn thông. EVN và các đơn vị khai thác mớ bòng bong dây cáp đang cò kè về giá thuê cột. Nay mai, thành phố chủ trương ngầm hóa bằng hệ thống tuy-nen, hay hàng rào kỹ thuật, hàng ngàn mét vuông vỉa hè mới lát chắc sẽ được đào lên. Lô cốt của mấy dự án tiêu thoát nước đô thị đang dựng lên những bức trường thành trên mọi ngả đường thành phố, gây ách tắc giao thông, tai nạn chết người và cản trở bà con làm ăn sinh sống! Sao không kết hợp ngay từ khâu quy hoạch để tiết kiệm kinh phí và thời gian, từng bước hiện đại hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Nguyên nhân vì chưa ai nghĩ ra một cơ quan phụ trách mảng này!

Quy hoạch đô thị nước ta ở cả ba lĩnh vực: nghiên cứu, thiết kế và quản lý đều đang rối. Bệnh ngứa đâu gãi đó mới chỉ là những biểu hiện lâm sàng, không có giải pháp khắc phục khoa học và kịp thời, e rằng sẽ dẫn đến di căn khó chữa.

  • KTS Nguyễn Trọng Huấn (Theo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2009

FDI: Đừng nghĩ CQ quản lý Nhà nước không biết làm việc

Bàn về thu hút FDI thời gian qua, ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH-ĐT cho rằng, không nên nghĩ cơ quan quản lý nhà nước không biết làm việc. Không chỉ nói suông, những nhận thức về FDI đã được luật hoá, và bước đầu triển khai.

>> FDI: Những dự án cần từ chối
>>
Thúc đẩy giải ngân FDI
>>
Không tự ru ngủ bằng chỉ số FDI trên giấy!
>>
Sau kỷ lục hút vốn FDI, giải ngân có chuyển biến lớn?

Ông Thắng cho rằng việc phân cấp đầu tư là đúng hướng nhưng cũng có những bất cập. Tuy nhiên, những việc này chỉ mang tính hiện tượng. Năm 2008, giải ngân được 12 tỷ USD đã là một thành công trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Không quốc gia nào có thể hấp thụ lượng FDI khổng lồ chỉ trong một năm.


FDI tăng: VN đang đi đúng hướng

- Tại sao trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn, luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tiếp tục đổ vào VN?

Trong 8 tháng qua, vốn đăng ký FDI đạt trên 47 tỷ USD và trong cả năm 2008 có thể đạt 50 tỉ USD. Điều đó khẳng định các nhà đầu tư quốc tế tiếp tục lựa chọn VN là điểm đến để đầu tư. Đó cũng là tín hiệu tích cực cho thấy chúng ta đã đi đúng hướng trong việc khắc phục những khó khăn hiện tại của nền kinh tế.

Không chỉ riêng VN phải đối mặt với những khó khăn kinh tế, nhưng lợi thế so sánh của chúng ta là sự ổn định chính trị xã hội và quyết tâm của Đảng, Chính phủ VN trong việc hoàn thiện môi trường đầu tư và kinh doanh.

Rõ ràng trước khi đầu tư vào VN, nhà đầu tư nước ngoài đều phải so sánh VN với các nước trong khu vực. Phải công bằng nhìn nhận Chính phủ, đặc biệt là Thủ tướng đã chỉ đạo hết sức sát sao, quyết liệt đối với tình hình kinh tế chính trị, nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, trong đó có việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách, tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng. Những điểm yếu vẫn bị các nhà đầu tư kêu ca nhiều như nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng yếu kém, dù chưa phải đã hoàn thiện nhưng cũng bước đầu được khắc phục.

Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

Không nước nào có thể hấp thụ lượng FDI khổng lồ chỉ trong 1 năm

- Nhưng 47 tỷ USD dù sao mới chỉ là những con số đăng ký. Điều mà các chuyên gia đặt dấu hỏi là liệu khả năng hấp thu nguồn vốn của nền kinh tế VN tới đâu? Báo cáo mới nhất của Citigroup cho rằng khả năng hấp thu nguồn vốn của VN còn kém. Bằng chứng là con số giải ngân dự kiến chỉ đạt 12 tỷ USD trong năm nay.

Chúng tôi vẫn luôn xác định: việc giải ngân nguồn FDI mới là quan trọng. Bên cạnh việc thu hút các nguồn dự án mới gối đầu cho các năm sau, Bộ KHĐT và các cơ quan quản lý nhà nước khác đều tập trung đẩy mạnh tốc độ giải ngân.

Nhưng không một quốc gia nào có thể hấp thụ khối lượng vốn lớn như vậy trong một thời gian ngắn. Ngay công tác đền bù giải phóng mặt bằng đã mất vài tháng, rồi việc xây dựng nhà máy cũng phải tính thời gian cả năm. Việc hấp thụ vốn, do đó phải mất vài năm.

Từ trước đến nay, chưa bao giờ trong 1 tháng chúng ta có thể giải ngân được 1 tỉ USD. Đó là một con số không nhỏ so với khả năng của chúng ta hiện nay.

"Không nên nghĩ cơ quan quản lý NN không biết làm việc"

- Có nhiều ý kiến lo ngại rằng lượng vốn đăng ký đầu tư vào các dự án sinh lời lớn như bất động sản tăng vọt trong khi các dự án thực sự tạo ra tăng trưởng và việc làm cho nền kinh tế như sản xuất công nghiệp, nông nghiệp thì tăng chậm. Ý kiến của ông?

Nói như vậy chưa chuẩn xác. Trong 8 tháng đầu năm, số dự án đăng ký vào công nghiệp rất lớn, 455 dự án với tổng vốn đầu tư 22,5 tỷ USD trong khi vào dịch vụ ít hơn, với 282 dự án.

Về bất động sản, chỉ có 3 dự án xây dựng khu đô thị mới, 22 dự án xây cao ốc, văn phòng, 21 dự án vào khách sạn, du lịch. Số còn lại tập trung vào các ngành dịch vụ khác hết sức cần thiết.

Ngay trong bất động sản, chúng ta cũng phải xem xét thực tiễn các nhà đầu tư đầu tư vào đâu? Có phải chỉ ở Hà Nội và TP.HCM? Hay các dự án này được đặt ở các khu vực cũng cần phát triển như Bà Rịa Vũng Tàu, các tỉnh miền Trung? Các tỉnh miền núi như Sa Pa (Lào Cai) nếu có KS 5 sao thì tốt quá chứ sao?

- Mặc dù vậy, quan điểm của nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng VN đã qua thời cần phải thu hút FDI bằng mọi giá. Đã đến lúc VN cần tỉnh táo, biết thu hút đầu tư có chọn lọc và dám nói KHÔNG với những dự án đầu tư gây ô nhiễm môi trường, lãng phí điện năng.

Đúng là trong hàng nghìn dự án FDI vẫn có các dự án như vậy. Nhưng tôi cho rằng đó chỉ là hiện tượng. Không nên nghĩ rằng, các cơ quan quản lý nhà nước không biết làm việc.

Trong thu hút FDI, tất cả các cơ quan quản lý đều quan tâm đến môi trường, an sinh xã hội và phát triển bền vững. Chúng tôi không nói suông mà điều đó đã được quy định trong Luật Đầu tư 2006. Và các cơ quan khi thẩm định, cấp phép đầu tư đều hiểu rõ trách nhiệm của họ.

- Nhưng chính việc phân cấp trong công tác cấp phép đầu tư, trao quyền cho các địa phương đang bắt đầu bộc lộ ra hiện tượng các địa phương đua nhau thu hút đầu tư theo thẩm quyền phân cấp của mình, dẫn tới tình trạng cấp phép ồ ạt và dễ dãi?

Vấn đề nào cũng có hai mặt. Phân cấp là bước đi đúng đắn, góp phần thu hút đầu tư trong 3 năm qua.

Trong quá trình đó, việc phân cấp cũng đã bộc lộ ra những hạn chế như cấp phép ồ ạt, nằm ngoài quy hoạch, chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề môi trường…đã xảy ra. Nhưng tôi vẫn cho rằng, đó chỉ là hiện tượng.

Trên tinh thần nhìn thẳng vào hạn chế đó, Bộ KHĐT đã cử các đoàn về các địa phương để rà soát, báo cáo tình hình sau 1 năm phân cấp đầu tư theo đó đề ra các việc: một là tuân thủ các quy trình và quy định của văn bản pháp luật trong việc tiếp nhận đầu tư; hai là tăng cường sự phối hợp giữa trung ương với địa phương trong cấp phép, đặc biệt là cơ chế phối hợp và chế độ báo cáo thống kê để kịp thời tổng hợp tình hình, giải quyết vướng mắc ở tầm vĩ mô.

Riêng hai dự án xây dựng Nhà máy thép của Formosa tại Hà Tĩnh và nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) đã chiếm 14 tỷ USD. (Ảnh: HQ Bình Định


Hiện nay có quá nhiều đầu mối để cấp phép, ở các tỉnh cũng như ban quản lý khu công nghiệp gây khó khăn cho tổng hợp định kỳ. Thậm chí, Tp. HCM còn uỷ quyền tiếp cho sở Kế hoạch - Đầu tư cấp phép thêm. Nhiều đầu mối và báo cáo thống kê chưa nghiêm gây khó cho đánh giá và báo cáo kịp thời hàng tháng.

Phá vỡ quy hoạch: Quan ngại nhưng chưa lo ngại

-
Liệu quá nhiều đầu mối cấp phép như vậy chính là nguyên nhân gây ra chuyện phá vỡ những qui hoạch tổng thể?

Đó là vấn đề gây quan ngại và đáng được quan tâm, nhưng chưa đáng lo ngại. Hiện nay ta có quy hoạch ngành, vùng, địa phương, lãnh thổ. Với quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt, là một điều kiện thuận lợi cho địa phương tiếp nhận đầu tư, địa phương cứ căn cứ theo đó để thực hiện.

- Việc “loạn” cấp phép sân golf có thể xem là ví dụ của việc phá vỡ quy hoạch?

Hiện nay VN mới chỉ có khoảng 13 sân golf chính thức hoạt động và số cấp phép là hơn 78 sân golf. Quan trọng nhất là sân golf chiếm diện tích canh tác lúa không lớn.

Chúng tôi đã kiến nghị lên Thủ tướng về việc thu hồi giấy phép các dự án sử dụng diện tích canh tác lúa và kiên quyết không cấp phép cho các dự án dạng này.

Thực tế các sân golf đang hoạt động đều ở vị trí không thể canh tác được hoặc không thể làm gì tốt hơn. Đơn cử, sân golf Đồng Mô chỉ có thể trồng sim, bạch đàn, sân golf Hoà Bình nằm trong hẻm núi…

- Nhiều người đặt vấn đề lập sân golf để phục vụ ai? Liệu chúng ta có cấp phép quá nhiều dự án sân golf hay không?

Nhiều hay ít phải căn cứ theo cung cầu. Từ 15 năm trước, Malaysia đã có hàng trăm sân golf và đều hoạt động hiệu quả, tạo công ăn việc làm, xử lý được vấn đề môi trường.

Với VN, dù đã cấp phép 78 dự án sân golf nhưng thực hiện được hay không là một vấn đề. Ta đang rà soát lại, theo hướng khuyến khích, đẩy nhanh các dự án trên đồi cát, không vi phạm đất canh tác. Muốn có đánh giá cuối cùng cần những điều tra xem xét kĩ lưỡng.

Giải ngân 12 tỷ USD, tăng trưởng có thể giữ được mức 7-7,5%

-
Trở lại với tốc độ giải ngân FDI. Theo ông, vướng mắc lớn nhất của các địa phương là gì?

Cái vướng lớn nhất là giải phóng mặt bằng, giao đất cho nhà đầu tư. Vướng thứ hai là các vấn đề nhân sinh, giải quyết bài toán tái định cư. Đây là những vấn đề cần phải giải quyết sớm.

Điều đáng mừng là trong bối cảnh kinh tế khó khăn, các nhà đầu tư vẫn có kế hoạch triển khai vốn tại VN. Chúng ta vẫn có thể đạt mục tiêu giải ngân 12 tỷ USD trong năm nay.

- 12 tỷ USD vẫn là con số khiêm tốn so với vốn cam kết lên tới 50 tỷ USD của năm nay?

Với khả năng của nền kinh tế hiện nay, đạt 12 tỷ USD đã là thành công rồi. Đạt được mức này, ta có thể đạt mục tiêu giữ tăng trưởng ở mức 7-7,5% trong năm 2008.

Tất nhiên, nếu chúng ta làm được nhiều hơn thì sẽ tốt hơn, nhưng so với yêu cầu vốn đầu tư nước ngoài đưa vào ở mức 180.000 tỷ đồng (12 tỷ USD), chúng ta đạt được là đáng mừng. Không thể đòi hỏi quá lớn.

Thành - Lâm (thực hiện)

Những phản ứng về sân golf và "vấn đề tế nhị" FDI

"Bên cạnh việc tái khôi phục sự quản lý có chất lượng hành chính, Chính phủ nên có cả sự quản lý về mặt hiệu quả chính trị và xã hội trong quá trình cấp phép hoặc kêu gọi đầu tư nước ngoài" - Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt phân tích về những phản ứng xung quanh các dự án golf và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.

Những phản ứng tâm lý tiêu cực

- Liên quan tới vấn đề đầu tư nước ngoài hiện nay, có ý kiến của cơ quan quản lý cho rằng tình hình đầu tư vào sân golf chưa đáng lo ngại lắm. Nhưng trên thực tế thì số lượng dự án sân golf là tương đối lớn. Ý kiến của ông?

Ông Nguyễn Trần Bạt: Cương lĩnh chính trị xã hội ta là công nghiệp hoá và hiện đại hoá, người ta buộc phải chuyển đổi mục đích sử dụng của đất đai từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp. Có nghĩa là ta phải bắt đầu hạn chế hoặc lấy bớt tư liệu sản xuất của khu vực kinh tế nông nghiệp, chuyển sang phát triển kinh tế công nghiệp.

Đáng tiếc là trên thực tế, việc lấy đất đang diễn ra trên quy mô rất lớn, nhưng việc tổ chức đào tạo và huấn luyện người nông dân trở thành những người có năng lực sản xuất công nghiệp lại không diễn ra với quy mô và tốc độ tương ứng. Vì vậy, nó làm mất cân đối, tạo ra một trạng thái thất nghiệp tạm thời trên quy mô ngày càng lớn của người nông dân.

Sân golf là một loại dự án tế nhị về mặt xã hội, là nơi phục vụ những người có tiền, có điều kiện hưởng thụ. Nó được làm trong những vùng dân cư nông nghiệp - ở đó sẽ diễn ra hai quá trình sống có chất lượng hoàn toàn khác nhau.

Nó hoàn toàn có thể tạo ra các tâm lý mặc cảm phổ biến trong những người lao động lam lũ ở nông thôn với những người hưởng thụ các dịch vụ của sân golf. Nếu người chơi golf là những người nước ngoài thì sự mặc cảm cũng có nhưng ít, còn nếu là người trong nước thì sự mặc cảm ấy lớn hơn rất nhiều.

Như vậy là việc quy hoạch, cấp phép, hoặc tạo ra các dự án sân golf đã không được xem xét một cách cẩn thận trên góc độ những phản ứng tâm lý xã hội.

Hơn nữa, khi lấy đất để làm sân golf, chúng ta đã không chú ý đến việc đào tạo người nông dân để họ có những điều kiện để có thể chuyển đổi thành lực lượng lao động có chất lượng khác. Chúng ta để cho tất cả các trò hưởng thụ diễn ra trước mắt một xã hội về cơ bản vẫn là lam lũ, do đó làm nảy sinh ra những tâm lý xã hội tiêu cực.

- Theo ông, 144 dự án đã được cấp phép nói lên điều gì?

Nó nói lên câu chuyện là chúng ta không còn muốn làm nông nghiệp nữa, chúng ta nóng vội, muốn giàu có, muốn có thu nhập lớn cho khu vực kinh tế, nhưng không nghĩ đến thu nhập tương xứng của những lực lượng lao động do sự hình thành các dự án ấy tạo ra. Chúng ta lấy mất tư liệu sản xuất của họ.

Thực ra, nếu đem so với những loại dự án lấy đất khác, ví dụ như phát triển căn hộ cho thuê, phát triển các khu công nghiệp nhẹ, tôi không nghĩ rằng dự án sân golf đem lại nhiều lợi ích hơn.

Không ai đứng ra cân đối hoạt động cấp phép

- Vậy tại sao các cơ quan quản lý của chúng ta lại cấp phép cho nhiều dự án sân golf như vậy?

Bởi vì không có ai đứng ra cân đối toàn bộ hoạt động cấp phép này. Trước đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư (trước nữa là làm ở Uỷ ban nhà nước về Hợp tác đầu tư) có quyền cấp phép các dự án như vậy, Chính phủ có quyền trực tiếp để kiểm soát tính cân đối trong quá trình cấp phép và quá trình cấu thành các dự án đầu tư nước ngoài.

Nhưng bây giờ đã phân cấp xuống địa phương, Cục đầu tư nước ngoài thực ra chỉ là người được báo cáo chứ nhưng không phải là người kiểm soát và cho phép.

Nhưng trên thực tế khi các địa phương được cấp phép, họ phải tuân thủ theo quy hoạch đã được đặt ra.

Tôi nghi ngờ về việc có một quy hoạch chi tiết như vậy. Ai làm ra một quy hoạch như vậy và làm thế nào để có được một quy hoạch như vậy?

Có thể có một số nguyên tắc nào đó làm căn bản cho việc các địa phương có quyền cấp phép đến đâu, nhưng liệu chúng ta có kiểm soát được các tiêu chuẩn ấy hay không, có thường xuyên đánh giá lại tính cân đối của các quy định như vậy hay không, và liệu các địa phương có tuân thủ các quy định như vậy hay không?

Không nên cho rằng đã cấp phép thì đấy là chuyện đã rồi. Đầu tư nước ngoài là để tăng cường lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội và chúng ta có nghĩa vụ phải quan tâm. Cho nên, những sự nhầm lẫn như vậy cần phải được khắc phục bằng mọi biện pháp mà chính phủ cần phải có.

Việc lấy đất nông nghiệp một cách đại trà để làm các dự án sân golf cần phải được giải quyết triệt để, không phải chỉ bằng các biện pháp trực tiếp và tích cực của chính phủ mà bằng cả hoạt động của hệ thống nhà nước.

Khi các dự án này được cấp phép thì người ta mới chỉ thấy được nguy cơ mất cân đối trên giấy, nhưng nó được triển khai và việc lấy đất ở các vùng canh tác nông nghiệp, ở những vùng dân cư đông đúc.

Khi được thực hiện, nó sẽ tạo ra một tâm lý xã hội hết sức không lành mạnh cho chế độ chính trị mà chúng ta vẫn ca ngợi rằng ở đấy bình đẳng và công bằng xã hội được xem như tiêu chuẩn quan trọng nhất.

Quản lý dựa trên sự cạnh tranh cũng cần được kiểm soát

- Một số cơ quan quản lý vẫn cho rằng nhiều nước trên thế giới có số lượng sân golf lớn hơn chúng ta, nhưng vẫn đảm bảo được về mặt môi trường, công ăn việc làm và hiệu quả từ hoạt động kinh doanh sân golf. Vậy vấn đề đặt ra trong hoạt động kinh doanh sân golf và đầu tư sân golf hiện nay là gì?

Tại sao chúng ta lại so sánh sân golf của chúng ta với cái gọi là quy mô sân golf ở các nước phát triển? Bình quân thu nhập theo đầu người của chúng ta chỉ có 500 - 700 đô la tính đến nấc đáy của thu nhập ở các vùng nông thôn, nếu lấy đó để làm căn cứ xem xét nên có sân golf hay không thì Việt Nam không nên có sân golf.

Trong xã hội chúng ta, số lượng người có tiền để chơi golf là rất ít. Ở nhiều nước, có hai loại sân golf: sân golf chuyên nghiệp và loại công viên có thể chơi golf được.

Còn ở ta, tất cả đều là sân golf chuyên nghiệp, thu phí, không khuyến khích những người thu nhập thấp chơi golf, không tạo quyền cho những người không có tiền vào đấy chơi golf.

- Như vậy, xét cho đến cùng thì lỗi thuộc về ai?

Chúng ta buông lỏng quản lý, không có một bộ phận nào trong cơ cấu chức năng của Chính phủ để đánh giá sự cân đối trên tất cả các vấn đề diễn ra trong đời sống kinh tế.

Mọi dự án kinh tế mà không nghiên cứu, không đếm xỉa đến hậu quả xã hội đều có ý nghĩa tiêu cực cả, dù nó là cái gì.

-

Các bài viết cùng chủ đề

>> Vì sao phải mặn mà với dự án sân golf?
>> Sân golf quý tộc phục vụ ai?
>> Thư ngỏ gửi ông Chủ tịch Hội Golf Việt Nam
>> Quan điểm trái chiều về sân golf
>> Tổng thư ký Hiệp hội Golf Việt Nam phản hồi
>> Ai bảo vệ sân golf xin trả lời
>> Hiệp sĩ Golf bị ruồng bỏ
>> Bộ KH-ĐT kiến nghị không cấp mới dự án sân golf
>> Đường mòn Golf HCM làm phương hại lúa gạo VN
>> Sân golf: không phải nước ngoài quản được là ta quản được
Phải chăng đây là hậu quả của việc chúng ta thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng mọi giá, đặc biệt là khi phân cấp thì chúng ta có sự cạnh tranh giữa các địa phương trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài?

Có một thời kỳ ta không phân cấp thì bộ máy quản lý cấp trên phình ra. Trong chừng mực nào đó, nó đã có những dấu hiệu quan liêu, tạo ra sự không bùng nổ được của kinh tế địa phương.

Có một thời kỳ chúng ta có một tiêu chuẩn là địa phương có thể cấp phép đầu tư, nhưng cấp một diện tích lên quá 2 héc ta thì phải được Thủ tướng phê chuẩn.

Bây giờ các địa phương cấp hàng trăm héc ta nhưng tôi không thấy có sự quản lý nào tập trung cả. Các địa phương khi đã được phân cấp quản lý thì phải cạnh tranh để kêu gọi đầu tư nước ngoài. Tạo ra sự cạnh tranh ấy là tốt, nhưng liệu đấy có phải là cạnh tranh kêu gọi đầu tư nước ngoài vì sự phát triển kinh tế hay vì những động cơ gì khác?

Liệu có động cơ muốn khẳng định uy thế của mình trong sinh hoạt của Chính phủ hoặc sinh hoạt của Ban chấp hành Trung ương? Biến quá trình quản lý tập trung thành quá trình quản lý dựa trên sự cạnh tranh là một quá trình mà Đảng cũng phải kiếm soát chứ không phải chỉ có Thủ tướng.

Tôi cho rằng, bên cạnh việc tái khôi phục sự quản lý có chất lượng hành chính, Chính phủ nên có cả sự quản lý về mặt hiệu quả chính trị và xã hội trong quá trình cấp phép hoặc kêu gọi đầu tư nước ngoài.

Có thể nói, sân golf là một trong những loại dự án nhạy cảm thể hiện sự không quan tâm đầy đủ đến khía cạnh chính trị và xã hội của quá trình kêu gọi đầu tư nước ngoài hiện nay.

Vấn đề là lấy lại sự cân đối cho nền kinh tế

- Quay trở lại vấn đề kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài, Liên Hợp Quốc vừa đánh giá rằng Việt Nam vẫn là một trong 10 quốc gia có thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất trong 8 tháng đầu năm 2008. Nhưng hiện nay, người ta đang nói nhiều về chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài và những mặt trái của nó hơn là về những thành tựu nó mang lại. Nhận định của ông?

Đối với mọi nền kinh tế, yêu cầu trung tâm là phải cân đối. Đó là sự cân đối giữa các khu vực, các ngành kinh tế với nhau, cân đối giữa quy mô của nền kinh tế với lực lượng lao động, với khả năng cung cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, cân đối với khả năng cung cấp các nguồn năng lượng, cân đối về mặt chính trị và về mặt văn hoá… Những sự cân đối ấy là những yêu cầu trung tâm của việc hoạch định các chương trình phát triển.

Nếu lấy lại được hoặc tạo ra được sự cân đối như vậy, và sự cân đối ấy được nghiên cứu và phổ biến để xã hội biết được thì tôi nghĩ là kêu gọi đầu tư nước ngoài không có vấn đề gì cả.

Xã hội đã kêu rất nhiều về các tập đoàn kinh tế nhà nước. Nó tạo ra sự mất cân đối giữa khu vực nhà nước với khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực dân doanh. Bây giờ thì đầu tư nước ngoài là một lực lượng khổng lồ nữa tạo ra sự mất cân đối, uy hiếp các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.

Cần nhớ rằng các khu vực kinh tế dân doanh với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của nó có một nghĩa vụ xã hội là giải quyết vấn đề công ăn việc làm, tạo ra thu nhập và nó có nghĩa vụ tạo ra nền tảng thị trường và xã hội. Nếu các khu vực kinh tế dân doanh bị lấn át thì sự mất cân đối này không chỉ tạo ra hậu quả chính trị (hậu quả này là đương nhiên và buộc phải nghiên cứu) mà nó còn làm cho sức mua của thị trường giảm xuống. Mất cân đối giữa khả năng sản xuất với khả năng mua là một trong những mất cân đối có tính chất cơ sở của cái gọi là nền kinh tế thị trường.

Tôi nghĩ rằng vấn đề của chúng ta là phải lấy lại sự cân đối cho nền kinh tế.

- Liên quan đến vấn đề cân đối thì Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài có nói rằng trong 8 tháng đầu năm, số vốn FDI tập trung vào khu vực bất động sản tới 50% nhưng điều ấy cũng chưa thể hiện sự mất cân đối, vì ta đang cần các dự án liên quan đến bất động sản. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Thực tế là sự phát triển ở quy mô thái quá của khu vực bất động sản đã tạo ra những tai họa cả cho cả những nền kinh tế khổng lồ chứ không phải chỉ Việt Nam.

Ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ đã tuyên bố phá sản. Lượng vốn lưu chuyển của ngân hàng ấy lớn bằng toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, thậm chí lớn hơn, vậy mà nó còn sụp đổ. Một ngân hàng có 158 năm tồn tại, có một đội ngũ chuyên nghiệp bằng tất cả các lực lượng chuyên nghiệp về ngân hàng và tài chính Việt Nam cộng lại mà vẫn bị sụp đổ vì cho vay thái quá, cung cấp các tín dụng thái quá cho việc phát triển bất động sản.

Bây giờ mà nói rằng 47,6% đầu tư vào bất động sản vẫn chưa phải là quá nhiều thì tôi không hiểu.(!)

Bất động sản là gì? Bất động sản là nhà ở. Nhà ở mua bằng gì? Mua bằng tiền tiết kiệm của người lao động.

Người lao động của chúng ta có lương vào khoảng vài ba triệu một tháng thì liệu có mua được bất động sản không, hay là bất động sản trở thành hàng hoá của một nền kinh tế đầu cơ? Vậy cái nền kinh tế đầu cơ ấy lấy tiền ở đâu ra để hoạt động? Nó rút ruột các ngân hàng dưới mọi hình thức và tạo ra tiền đề làm lệch lạc toàn bộ thị trường tài chính Việt Nam. Nguy cơ này lớn lắm.

Trong trường hợp này, ông Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài nên đóng vai trò là một nhà tài chính để tìm hiểu một cách sâu sắc sự mất cân đối được thể hiện trong toàn bộ nguồn năng lượng để phát triển nền kinh tế, đó là thị trường tài chính.

Đừng công kích số liệu!

- Có ý kiến cho rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài của chúng ta lớn như vậy nhưng thực tế nguồn vốn đổ vào Việt Nam chưa chắc đã chủ yếu bắt nguồn từ nước ngoài, mà có thể lại lấy từ trong nước. Quan điểm của ông thế nào?

Điều đó hoàn toàn lệ thuộc vào chính sách của Chính phủ. Nếu Chính phủ không cho phép các xí nghiệp, các công ty đầu tư nước ngoài huy động tài chính trên thị trường Việt Nam thì tiền buộc phải đưa từ ngoài vào. Tuy nhiên, việc ấy chỉ có thể làm được đối với các ngành khác chứ không làm được với ngành bất động sản.

Bởi vì người mua các hàng hoá bất động sản là người Việt, người ta buộc phải thu tiền bán nhà từ người Việt và do đó tiền bán nhà trở thành vốn huy động trên lãnh thổ Việt Nam.

Cho nên, tỷ lệ đầu tư vào khu vực bất động sản càng lớn bao nhiêu thì tỷ trọng tiền từ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam càng giảm đi bấy nhiêu.

- Vậy tình trạng hiện nay có đáng lo ngại không khi mà thực tế cho thấy các con số đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là con số ảo?

Chúng ta buộc phải hiểu một vấn đề rất tế nhị như thế này: các con số thống kê được truyền bá trên các phương tiện truyền thông về kêu gọi đầu tư nước ngoài được sử dụng như một số liệu để khích lệ sự chú ý đến nền kinh tế Việt Nam của cộng đồng kinh doanh nước ngoài. Nếu như chúng ta phân tích không khéo thì chúng ta làm mất cảm hứng của các nhà đầu tư nước ngoài, tức là chúng ta tự làm giảm thiểu các cơ hội tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam.

Nhưng nếu chúng ta tin tưởng mù quáng vào những số liệu thống kê như vậy thì chúng ta có lỗi về mặt trí tuệ.

- Như vậy tức là chúng ta vẫn cần phải cảnh báo về vấn đề đó?

Trong khi quảng bá cho đất nước để kêu gọi đầu tư nước ngoài, có thể đôi khi chúng ta nói quá lên một chút để hấp dẫn người ta.

Nhưng tôi nghĩ rằng, không nên tạo ra một chiến dịch công kích vào các con số có chất lượng thống kê hiện nay của Chính phủ đối với đầu tư nước ngoài. Nên có cách góp ý tốt hơn, và Chính phủ cũng phải chủ động tạo ra các kênh nghe để luôn luôn điều chỉnh sự cân đối.

Nếu chúng ta cứ tiếp tục làm như hiện nay thì sẽ trở thành hai phe cãi nhau, một bên bảo đấy là thành tích, còn bên kia bảo không phải. Nói cho cùng, đầu tư nước ngoài là một lực lượng mà nước nào cũng cần lôi kéo, chúng ta không nên tạo ra tình trạng tranh cãi lẫn nhau như vậy, bởi vì nó có thể trở thành một cách quảng cáo ngược cho đất nước.

Xin cảm ơn ông!

  • Trần Đức Thành (thực hiện)