| "Bên cạnh việc tái khôi phục sự quản lý có chất lượng hành chính, Chính phủ nên có cả sự quản lý về mặt hiệu quả chính trị và xã hội trong quá trình cấp phép hoặc kêu gọi đầu tư nước ngoài" - Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trần Bạt phân tích về những phản ứng xung quanh các dự án golf và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. | ||||
Những phản ứng tâm lý tiêu cực - Liên quan tới vấn đề đầu tư nước ngoài hiện nay, có ý kiến của cơ quan quản lý cho rằng tình hình đầu tư vào sân golf chưa đáng lo ngại lắm. Nhưng trên thực tế thì số lượng dự án sân golf là tương đối lớn. Ý kiến của ông? Đáng tiếc là trên thực tế, việc lấy đất đang diễn ra trên quy mô rất lớn, nhưng việc tổ chức đào tạo và huấn luyện người nông dân trở thành những người có năng lực sản xuất công nghiệp lại không diễn ra với quy mô và tốc độ tương ứng. Vì vậy, nó làm mất cân đối, tạo ra một trạng thái thất nghiệp tạm thời trên quy mô ngày càng lớn của người nông dân. Sân golf là một loại dự án tế nhị về mặt xã hội, là nơi phục vụ những người có tiền, có điều kiện hưởng thụ. Nó được làm trong những vùng dân cư nông nghiệp - ở đó sẽ diễn ra hai quá trình sống có chất lượng hoàn toàn khác nhau. Nó hoàn toàn có thể tạo ra các tâm lý mặc cảm phổ biến trong những người lao động lam lũ ở nông thôn với những người hưởng thụ các dịch vụ của sân golf. Nếu người chơi golf là những người nước ngoài thì sự mặc cảm cũng có nhưng ít, còn nếu là người trong nước thì sự mặc cảm ấy lớn hơn rất nhiều. Như vậy là việc quy hoạch, cấp phép, hoặc tạo ra các dự án sân golf đã không được xem xét một cách cẩn thận trên góc độ những phản ứng tâm lý xã hội. Hơn nữa, khi lấy đất để làm sân golf, chúng ta đã không chú ý đến việc đào tạo người nông dân để họ có những điều kiện để có thể chuyển đổi thành lực lượng lao động có chất lượng khác. Chúng ta để cho tất cả các trò hưởng thụ diễn ra trước mắt một xã hội về cơ bản vẫn là lam lũ, do đó làm nảy sinh ra những tâm lý xã hội tiêu cực.
- Theo ông, 144 dự án đã được cấp phép nói lên điều gì? Nó nói lên câu chuyện là chúng ta không còn muốn làm nông nghiệp nữa, chúng ta nóng vội, muốn giàu có, muốn có thu nhập lớn cho khu vực kinh tế, nhưng không nghĩ đến thu nhập tương xứng của những lực lượng lao động do sự hình thành các dự án ấy tạo ra. Chúng ta lấy mất tư liệu sản xuất của họ. Thực ra, nếu đem so với những loại dự án lấy đất khác, ví dụ như phát triển căn hộ cho thuê, phát triển các khu công nghiệp nhẹ, tôi không nghĩ rằng dự án sân golf đem lại nhiều lợi ích hơn. - Vậy tại sao các cơ quan quản lý của chúng ta lại cấp phép cho nhiều dự án sân golf như vậy? Bởi vì không có ai đứng ra cân đối toàn bộ hoạt động cấp phép này. Trước đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư (trước nữa là làm ở Uỷ ban nhà nước về Hợp tác đầu tư) có quyền cấp phép các dự án như vậy, Chính phủ có quyền trực tiếp để kiểm soát tính cân đối trong quá trình cấp phép và quá trình cấu thành các dự án đầu tư nước ngoài. Nhưng bây giờ đã phân cấp xuống địa phương, Cục đầu tư nước ngoài thực ra chỉ là người được báo cáo chứ nhưng không phải là người kiểm soát và cho phép. Nhưng trên thực tế khi các địa phương được cấp phép, họ phải tuân thủ theo quy hoạch đã được đặt ra. Tôi nghi ngờ về việc có một quy hoạch chi tiết như vậy. Ai làm ra một quy hoạch như vậy và làm thế nào để có được một quy hoạch như vậy? Có thể có một số nguyên tắc nào đó làm căn bản cho việc các địa phương có quyền cấp phép đến đâu, nhưng liệu chúng ta có kiểm soát được các tiêu chuẩn ấy hay không, có thường xuyên đánh giá lại tính cân đối của các quy định như vậy hay không, và liệu các địa phương có tuân thủ các quy định như vậy hay không? Không nên cho rằng đã cấp phép thì đấy là chuyện đã rồi. Đầu tư nước ngoài là để tăng cường lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội và chúng ta có nghĩa vụ phải quan tâm. Cho nên, những sự nhầm lẫn như vậy cần phải được khắc phục bằng mọi biện pháp mà chính phủ cần phải có. Việc lấy đất nông nghiệp một cách đại trà để làm các dự án sân golf cần phải được giải quyết triệt để, không phải chỉ bằng các biện pháp trực tiếp và tích cực của chính phủ mà bằng cả hoạt động của hệ thống nhà nước. Khi các dự án này được cấp phép thì người ta mới chỉ thấy được nguy cơ mất cân đối trên giấy, nhưng nó được triển khai và việc lấy đất ở các vùng canh tác nông nghiệp, ở những vùng dân cư đông đúc.
Quản lý dựa trên sự cạnh tranh cũng cần được kiểm soát - Một số cơ quan quản lý vẫn cho rằng nhiều nước trên thế giới có số lượng sân golf lớn hơn chúng ta, nhưng vẫn đảm bảo được về mặt môi trường, công ăn việc làm và hiệu quả từ hoạt động kinh doanh sân golf. Vậy vấn đề đặt ra trong hoạt động kinh doanh sân golf và đầu tư sân golf hiện nay là gì? Tại sao chúng ta lại so sánh sân golf của chúng ta với cái gọi là quy mô sân golf ở các nước phát triển? Bình quân thu nhập theo đầu người của chúng ta chỉ có 500 - 700 đô la tính đến nấc đáy của thu nhập ở các vùng nông thôn, nếu lấy đó để làm căn cứ xem xét nên có sân golf hay không thì Việt Nam không nên có sân golf. Trong xã hội chúng ta, số lượng người có tiền để chơi golf là rất ít. Ở nhiều nước, có hai loại sân golf: sân golf chuyên nghiệp và loại công viên có thể chơi golf được. Còn ở ta, tất cả đều là sân golf chuyên nghiệp, thu phí, không khuyến khích những người thu nhập thấp chơi golf, không tạo quyền cho những người không có tiền vào đấy chơi golf.
- Như vậy, xét cho đến cùng thì lỗi thuộc về ai? Chúng ta buông lỏng quản lý, không có một bộ phận nào trong cơ cấu chức năng của Chính phủ để đánh giá sự cân đối trên tất cả các vấn đề diễn ra trong đời sống kinh tế. Mọi dự án kinh tế mà không nghiên cứu, không đếm xỉa đến hậu quả xã hội đều có ý nghĩa tiêu cực cả, dù nó là cái gì. - Phải chăng đây là hậu quả của việc chúng ta thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng mọi giá, đặc biệt là khi phân cấp thì chúng ta có sự cạnh tranh giữa các địa phương trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài? Có một thời kỳ ta không phân cấp thì bộ máy quản lý cấp trên phình ra. Trong chừng mực nào đó, nó đã có những dấu hiệu quan liêu, tạo ra sự không bùng nổ được của kinh tế địa phương. Có một thời kỳ chúng ta có một tiêu chuẩn là địa phương có thể cấp phép đầu tư, nhưng cấp một diện tích lên quá 2 héc ta thì phải được Thủ tướng phê chuẩn. Bây giờ các địa phương cấp hàng trăm héc ta nhưng tôi không thấy có sự quản lý nào tập trung cả. Các địa phương khi đã được phân cấp quản lý thì phải cạnh tranh để kêu gọi đầu tư nước ngoài. Tạo ra sự cạnh tranh ấy là tốt, nhưng liệu đấy có phải là cạnh tranh kêu gọi đầu tư nước ngoài vì sự phát triển kinh tế hay vì những động cơ gì khác? Liệu có động cơ muốn khẳng định uy thế của mình trong sinh hoạt của Chính phủ hoặc sinh hoạt của Ban chấp hành Trung ương? Biến quá trình quản lý tập trung thành quá trình quản lý dựa trên sự cạnh tranh là một quá trình mà Đảng cũng phải kiếm soát chứ không phải chỉ có Thủ tướng. Tôi cho rằng, bên cạnh việc tái khôi phục sự quản lý có chất lượng hành chính, Chính phủ nên có cả sự quản lý về mặt hiệu quả chính trị và xã hội trong quá trình cấp phép hoặc kêu gọi đầu tư nước ngoài. Có thể nói, sân golf là một trong những loại dự án nhạy cảm thể hiện sự không quan tâm đầy đủ đến khía cạnh chính trị và xã hội của quá trình kêu gọi đầu tư nước ngoài hiện nay. Vấn đề là lấy lại sự cân đối cho nền kinh tế - Quay trở lại vấn đề kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài, Liên Hợp Quốc vừa đánh giá rằng Việt Nam vẫn là một trong 10 quốc gia có thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất trong 8 tháng đầu năm 2008. Nhưng hiện nay, người ta đang nói nhiều về chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài và những mặt trái của nó hơn là về những thành tựu nó mang lại. Nhận định của ông? Nếu lấy lại được hoặc tạo ra được sự cân đối như vậy, và sự cân đối ấy được nghiên cứu và phổ biến để xã hội biết được thì tôi nghĩ là kêu gọi đầu tư nước ngoài không có vấn đề gì cả. Xã hội đã kêu rất nhiều về các tập đoàn kinh tế nhà nước. Nó tạo ra sự mất cân đối giữa khu vực nhà nước với khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực dân doanh. Bây giờ thì đầu tư nước ngoài là một lực lượng khổng lồ nữa tạo ra sự mất cân đối, uy hiếp các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Cần nhớ rằng các khu vực kinh tế dân doanh với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của nó có một nghĩa vụ xã hội là giải quyết vấn đề công ăn việc làm, tạo ra thu nhập và nó có nghĩa vụ tạo ra nền tảng thị trường và xã hội. Nếu các khu vực kinh tế dân doanh bị lấn át thì sự mất cân đối này không chỉ tạo ra hậu quả chính trị (hậu quả này là đương nhiên và buộc phải nghiên cứu) mà nó còn làm cho sức mua của thị trường giảm xuống. Mất cân đối giữa khả năng sản xuất với khả năng mua là một trong những mất cân đối có tính chất cơ sở của cái gọi là nền kinh tế thị trường. Tôi nghĩ rằng vấn đề của chúng ta là phải lấy lại sự cân đối cho nền kinh tế.
- Liên quan đến vấn đề cân đối thì Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài có nói rằng trong 8 tháng đầu năm, số vốn FDI tập trung vào khu vực bất động sản tới 50% nhưng điều ấy cũng chưa thể hiện sự mất cân đối, vì ta đang cần các dự án liên quan đến bất động sản. Ông nghĩ sao về ý kiến này? Thực tế là sự phát triển ở quy mô thái quá của khu vực bất động sản đã tạo ra những tai họa cả cho cả những nền kinh tế khổng lồ chứ không phải chỉ Việt Nam. Ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ đã tuyên bố phá sản. Lượng vốn lưu chuyển của ngân hàng ấy lớn bằng toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, thậm chí lớn hơn, vậy mà nó còn sụp đổ. Một ngân hàng có 158 năm tồn tại, có một đội ngũ chuyên nghiệp bằng tất cả các lực lượng chuyên nghiệp về ngân hàng và tài chính Việt Nam cộng lại mà vẫn bị sụp đổ vì cho vay thái quá, cung cấp các tín dụng thái quá cho việc phát triển bất động sản. Bây giờ mà nói rằng 47,6% đầu tư vào bất động sản vẫn chưa phải là quá nhiều thì tôi không hiểu.(!) Bất động sản là gì? Bất động sản là nhà ở. Nhà ở mua bằng gì? Mua bằng tiền tiết kiệm của người lao động. Người lao động của chúng ta có lương vào khoảng vài ba triệu một tháng thì liệu có mua được bất động sản không, hay là bất động sản trở thành hàng hoá của một nền kinh tế đầu cơ? Vậy cái nền kinh tế đầu cơ ấy lấy tiền ở đâu ra để hoạt động? Nó rút ruột các ngân hàng dưới mọi hình thức và tạo ra tiền đề làm lệch lạc toàn bộ thị trường tài chính Việt Nam. Nguy cơ này lớn lắm. Trong trường hợp này, ông Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài nên đóng vai trò là một nhà tài chính để tìm hiểu một cách sâu sắc sự mất cân đối được thể hiện trong toàn bộ nguồn năng lượng để phát triển nền kinh tế, đó là thị trường tài chính. Đừng công kích số liệu! - Có ý kiến cho rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài của chúng ta lớn như vậy nhưng thực tế nguồn vốn đổ vào Việt Nam chưa chắc đã chủ yếu bắt nguồn từ nước ngoài, mà có thể lại lấy từ trong nước. Quan điểm của ông thế nào? Điều đó hoàn toàn lệ thuộc vào chính sách của Chính phủ. Nếu Chính phủ không cho phép các xí nghiệp, các công ty đầu tư nước ngoài huy động tài chính trên thị trường Việt Nam thì tiền buộc phải đưa từ ngoài vào. Tuy nhiên, việc ấy chỉ có thể làm được đối với các ngành khác chứ không làm được với ngành bất động sản. Bởi vì người mua các hàng hoá bất động sản là người Việt, người ta buộc phải thu tiền bán nhà từ người Việt và do đó tiền bán nhà trở thành vốn huy động trên lãnh thổ Việt Nam. Cho nên, tỷ lệ đầu tư vào khu vực bất động sản càng lớn bao nhiêu thì tỷ trọng tiền từ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam càng giảm đi bấy nhiêu. - Vậy tình trạng hiện nay có đáng lo ngại không khi mà thực tế cho thấy các con số đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là con số ảo? Chúng ta buộc phải hiểu một vấn đề rất tế nhị như thế này: các con số thống kê được truyền bá trên các phương tiện truyền thông về kêu gọi đầu tư nước ngoài được sử dụng như một số liệu để khích lệ sự chú ý đến nền kinh tế Việt Nam của cộng đồng kinh doanh nước ngoài. Nếu như chúng ta phân tích không khéo thì chúng ta làm mất cảm hứng của các nhà đầu tư nước ngoài, tức là chúng ta tự làm giảm thiểu các cơ hội tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Nhưng nếu chúng ta tin tưởng mù quáng vào những số liệu thống kê như vậy thì chúng ta có lỗi về mặt trí tuệ. - Như vậy tức là chúng ta vẫn cần phải cảnh báo về vấn đề đó? Trong khi quảng bá cho đất nước để kêu gọi đầu tư nước ngoài, có thể đôi khi chúng ta nói quá lên một chút để hấp dẫn người ta. Nhưng tôi nghĩ rằng, không nên tạo ra một chiến dịch công kích vào các con số có chất lượng thống kê hiện nay của Chính phủ đối với đầu tư nước ngoài. Nên có cách góp ý tốt hơn, và Chính phủ cũng phải chủ động tạo ra các kênh nghe để luôn luôn điều chỉnh sự cân đối. Nếu chúng ta cứ tiếp tục làm như hiện nay thì sẽ trở thành hai phe cãi nhau, một bên bảo đấy là thành tích, còn bên kia bảo không phải. Nói cho cùng, đầu tư nước ngoài là một lực lượng mà nước nào cũng cần lôi kéo, chúng ta không nên tạo ra tình trạng tranh cãi lẫn nhau như vậy, bởi vì nó có thể trở thành một cách quảng cáo ngược cho đất nước. Xin cảm ơn ông!
|
Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2009
Những phản ứng về sân golf và "vấn đề tế nhị" FDI
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét